Còn trong bài viết nhỏ này, chúng tôi ghi lại cảm nhận về Đại tướng Văn Tiến Dũng của những nhân chứng đã từng sát cánh cùng ông qua những chiến trường ác liệt.

leftcenterrightdel

Đại tướng Văn Tiến Dũng trong một lần gặp mặt cựu chiến binh Sư đoàn 320. Ảnh do đồng chí Vũ Oanh cung cấp.

 
“Bắt mạch” chiến trường

Trung tướng Khuất Duy Tiến, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3 nhớ mãi ngày ông còn là Trưởng phòng Tác chiến Chiến dịch Tây Nguyên. Đang hân hoan mừng chiến thắng khi quân ta giải phóng Buôn Ma Thuột thì chiều 15-3-1975, Phó tổng Tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền, người cùng Đại tướng Văn Tiến Dũng vào chiến trường chỉ đạo chiến dịch đến Sở chỉ huy chiến dịch hỏi: “Này Tiến, đã thấy hiện tượng địch rút khỏi Tây Nguyên chưa?”. Vì luôn luôn nắm chắc bộ phận trinh sát nên Khuất Duy Tiến trả lời: “Báo cáo, chưa có hiện tượng gì!”. Đến 8 giờ tối 16-3, Đại tướng Văn Tiến Dũng gọi điện cho các đồng chí Hoàng Minh Thảo và Vũ Lăng, Tư lệnh và Phó tư lệnh chiến dịch: “Địch đã rút bỏ Plei-cu và Kon Tum, các anh cho quân ra chặn ngay”. Rồi ông trực tiếp gọi điện cho Đại tá Kim Tuấn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320. Ông nghiêm giọng: “Đi truy kích ngay! Nếu để địch tuột về Phú Yên là có tội với đất nước!”.

Tôi đã được vài lần nghe câu chuyện này và trong cuốn “Đại thắng mùa Xuân” của Đại tướng Văn Tiến Dũng cũng có thuật lại, song được trực tiếp người trong cuộc kể, tôi mới cảm nhận được trong tình thế căng thẳng, Đại tướng Văn Tiến Dũng luôn tỉnh táo, “bắt mạch” đúng diễn biến chiến trường để làm nên chiến thắng lừng lẫy.

“Ngày 16-3 đáng nhớ ấy, khi cả Bộ tư lệnh chiến dịch chưa nắm được tin tức gì về việc địch rút chạy thì Đại tướng Văn Tiến Dũng đã biết tin một bộ phận quân địch đã về đến ngã ba Mỹ Trạch, theo Đường số 7 đi về hướng Cheo Reo. Sau khi nhận chỉ thị từ Tổng Tham mưu trưởng, Sư đoàn trưởng Kim Tuấn lệnh cho Trung đoàn 64 suốt đêm đốt đuốc băng rừng hơn 20 cây số để ra chặn địch, làm nên trận Cheo Reo-Củng Sơn, trận truy kích lớn nhất trong lịch sử chiến tranh Đông Dương”-Trung tướng Khuất Duy Tiến nhớ lại.

Để có được sự nắm bắt chiến trường nhanh nhạy đó, Đại tướng Văn Tiến Dũng từng được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương phái đến chỉ đạo các chiến dịch quan trọng như: Chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm 1971, Chiến dịch Trị-Thiên năm 1972… Nhưng giai đoạn khó khăn, gian khổ để tạo nên một trong những nhà quân sự xuất sắc thời đại Hồ Chí Minh là thời gian ông làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng, nay là Sư đoàn 320).

Thời điểm thành lập Đại đoàn 320 (ngày 16-1-1951), các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ hầu như bị thực dân Pháp chiếm đóng. Sự ra đời của Đại đoàn 320 trên cơ sở các Trung đoàn 48, 64 và 52 với nhiệm vụ chủ yếu là tác chiến ở 12 tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ chẳng khác nào “một mình chiến đấu giữa bầy lang sói”.

“Phải khẳng định rằng, Đại đoàn 320 lúc đó đảm nhiệm một hướng chiến lược vô cùng quan trọng. Cùng với hai trung đoàn địa phương khác, đại đoàn đã tiêu hao, tiêu diệt, phân tán lực lượng địch để phối hợp với các chiến trường chính khác; giành giật với địch địa bàn chiến lược ở vùng đông dân nhất Bắc Bộ để đánh bại âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch, không cho chúng lấy quân đưa lên Điện Biên Phủ, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch vĩ đại này. Người đứng đầu đại đoàn lúc đó là anh Văn Tiến Dũng đã sắc sảo nắm bắt chiến trường rất giỏi”-Từng là người lính của Đại đoàn 320 trong những ngày gian khó đó, Trung tướng Khuất Duy Tiến nói.

Sau ngày thành lập, nhận lệnh đánh địch ở Sơn Tây để chia lửa cho Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, chỉ với 3 tiểu đoàn, trong một đêm đại đoàn tiêu diệt 9 đồn, làm địch thất kinh. Sau đó, đồng chí Văn Tiến Dũng (lúc này mang quân hàm Thiếu tướng) chỉ huy đại đoàn vượt qua sông Đáy, sông Hồng để vào Thái Bình đánh “bung” 21 tiểu đoàn Pháp. Chiến thuật “Nở hoa trong lòng địch” huyền thoại là cách đánh do Đại tướng Văn Tiến Dũng và Đại đoàn 320 sáng tạo nên. Đó là cách đánh táo bạo, bất ngờ, đòi hỏi tính quyết đoán, thông minh của người chỉ huy trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về địch, đem lại chiến thắng quyết định trong các trận chiến đấu cụ thể cũng như nhiều chiến dịch mang ý nghĩa chiến lược của Quân đội ta.

Sau này, khi đảm nhiệm trọng trách Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ở cuối cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến hết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã đề xuất nhiều chủ trương lớn cho Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh trong nhiều chiến dịch lớn, quyết định đến từng giai đoạn của cuộc chiến tranh. Trong bài “Làm kế hoạch chiến lược bảo vệ miền Bắc, đánh Mỹ ở miền Nam”, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, nguyên Phó tổng Tham mưu trưởng kể: “Năm 1961, tôi về nhận nhiệm vụ Cục trưởng Cục Tác chiến chưa được bao lâu, anh Văn Tiến Dũng, Thượng tướng, Tổng Tham mưu trưởng đã gặp và giao nhiệm vụ: “Anh phải trực tiếp làm ngay kế hoạch dự phòng chiến lược chống không quân và hải quân Mỹ đánh ra miền Bắc, quân Mỹ và chư hầu trực tiếp vào miền Nam tham chiến…”. Còn Đại tướng Lê Trọng Tấn từng kể rằng: “…Tôi nhớ sau cuộc họp, đồng chí Văn Tiến Dũng nói: Phải làm gì để giải phóng miền Nam? Tôi đề nghị phải có một bộ phận chuyên trách về vấn đề này để giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Chính trị, một kế hoạch tổng quát về giai đoạn chiến lược mới này…”. Sau đó ít lâu, Bộ Tổng tham mưu thành lập Tổ Trung tâm do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tổ trưởng để xây dựng “Kế hoạch chiến lược cơ bản giải phóng miền Nam” năm 1975 mà Đại tướng Văn Tiến Dũng vừa là người tham gia, vừa là người thực hiện.

leftcenterrightdel
Đại tướng Võ Nguyên Giáp vui mừng gặp Đại tướng Văn Tiến Dũng sau Đại thắng mùa xuân năm 1975. Ảnh tư liệu 
Văn võ toàn tài, tấm lòng nhân ái

Đại tướng Văn Tiến Dũng sinh ngày 2-5-1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm (nay thuộc quận Bắc Từ Liêm), TP Hà Nội. Làng này từ xa xưa đã có câu: Văn khoa, võ liệt quang thế phả/ Hoa tiền Văn hậu kiến thành ngôn, nghĩa là: Văn hay võ giỏi ngời dòng họ/ Họ Hoa trước, họ Văn sau nổi tiếng lành. Câu này ứng với cậu học trò nghèo Văn Tiến Dũng, sau này là Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đại tướng Văn Tiến Dũng vốn là cán bộ chính trị của Đảng ta. Tháng 4-1945, ông là Bí thư Khu ủy Bắc Kỳ. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử Văn Tiến Dũng làm Cục trưởng Cục Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương. Chính trong những ngày được ở gần Bác Hồ, Văn Tiến Dũng được Người dạy bảo rất nhiều về công tác quân sự, chính trị, dân vận. Trong hồi ký “Đi theo con đường của Bác” do NXB Chính trị Quốc gia-Sự Thật xuất bản năm 1993, ông xúc động nhớ lại kỷ niệm gặp Bác khi về nhận nhiệm vụ xây dựng Đại đoàn 320: “Chia tay anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), tôi nhận được tin Bác Hồ gọi sang làm việc. Lòng tôi rưng rưng xúc động. Mỗi khi đứng trước khó khăn, tôi lại thấy hình như Bác là người hiểu thấu lòng cán bộ hơn ai hết… Cuối cùng Bác nói: Chú về đồng bằng, trong mọi hành động cần nhớ rằng chính trị ngang quân sự. Đánh được giặc là phải được lòng dân, giành được dân. Có dân là có tất cả…”. Lời dạy của Bác đã trở thành kim chỉ nam cho Đại tướng Văn Tiến Dũng trong hoạt động quân sự sau này. Chỉ huy một đại đoàn giữa vòng vây của địch, đi đến đâu, ông cũng nhắc nhở bộ đội phải thật chu đáo với nhân dân, lấy đoàn kết với nhân dân làm đầu, cho nên bộ đội Đại đoàn Đồng Bằng trở thành đứa con máu thịt của nhân dân ở vùng đất oanh liệt này.

Ở Sư đoàn 320 hôm nay còn lưu truyền một câu chuyện về cách dùng người của Đại tướng Văn Tiến Dũng. Hồi ông còn làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy, sắp đến ngày chiến dịch thì có một cán bộ chỉ huy trung đoàn về nhà cưới vợ mà không xin phép. Khi trở lại đại đoàn, mọi người tin chắc vị này sẽ phải ra Tòa án Quân sự. Nhưng không. Văn Tiến Dũng gọi anh ta lên nói chuyện, phân tích đúng sai rồi điều đi làm trợ lý tác chiến ở một trung đoàn khác. Sau này, người cán bộ đó lập nhiều thành tích xuất sắc, trở thành cán bộ cao cấp của Quân đội ta. Cách đối xử với cấp dưới của đồng chí Văn Tiến Dũng là mềm dẻo nhưng cương quyết, đoàn kết, thương yêu nhau như ruột thịt. Ông đã để lại bài học đó cho lớp lớp cán bộ Sư đoàn 320 sau này. Trong bài “Đồng chí Văn Tiến Dũng-một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một vị tướng lỗi lạc”, Thủ tướng Võ Văn Kiệt viết: “Với nụ cười đôn hậu, cách phát biểu khoan thai, từ tốn, khiêm nhường cùng với thái độ hết sức nghiêm túc trong công việc và sự vô tư trong sáng, anh Văn Tiến Dũng đã luôn được quý trọng trong Đảng và Quân đội ta”.

Nụ cười đôn hậu ấy của Đại tướng Văn Tiến Dũng được toàn quân, toàn dân ta nhớ mãi.

HỒNG SƠN