Làng tuy nghèo nhưng đã chắt chiu nuôi chúng tôi lớn lên từng ngày với những kỷ niệm khó quên. Những ngày mà cặp sách học trò chúng tôi phải làm bằng vỏ bao xi măng, giấy học là những mảnh vụn đã qua viết đem luộc cùng nước vôi xóa chữ cũ để viết chữ mới. Rồi đói quay đói quắt, từ tinh mơ đến mặt trời đứng bóng nơi trường làng vẫn chưa có chút gì lót dạ. Thế mà Luyến thường thủ trong túi áo mình củ khoai lang luộc dúi vội cho tôi trước khi thầy “gõ bảng” vào lớp. Còn tôi, hễ Luyến cạn mực lại nghiêng lọ mực mình rót vào lọ bạn mấy giọt mực tím. Những kỷ niệm ấy đã quyện chặt tình bạn giữa chúng tôi cho đến mùa xuân năm 1960, cả hai đều lên đường xa quê.

Sáng 2-2-1960, tôi nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội 4, Tiểu đoàn 907, Phân khu Quân sự Lai Châu, Quân khu Tây Bắc. Ngay đêm ấy, Luyến cũng rời làng ngược Sơn Tây (Hà Nội) xin vào làm ở một nông trường và đầu năm sau nhập ngũ, trở thành chiến sĩ Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Tên lửa 724 cho đến khi chiến trường miền Nam gọi, Luyến cùng đồng đội vào Nam chiến đấu. Ngày lên đường đi B, Luyến thư nhanh cho tôi khoe rằng: “Vô cùng vinh dự vì trước khi vào Nam chiến đấu, đơn vị đã bắn đạn thật tên lửa tại Sơn Tây được Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo và động viên!”. Không kịp thư hồi âm cho Luyến, tôi thầm hứa đợi dịp sẽ cùng “chia lửa” với Luyến trong những cuộc chiến đấu tới đây. Luyến đã cùng đồng đội anh dũng chiến đấu lập công xuất sắc qua những trận đánh địch, tiêu biểu là hai trận pháo kích dữ dội vào sân bay Biên Hòa và sân vận động Hố Nai. Trận nã tên lửa vào sân bay Biên Hòa, đơn vị Luyến đã phá hủy 18 máy bay, làm tê liệt sân bay địch 5 ngày liền. Còn trận pháo kích sân vận động Hố Nai, đơn vị đã phóng liên tục 10 quả tên lửa, tiêu diệt 270 lính Mỹ, 3 máy bay trực thăng và 1 xe tăng địch. Sau trận đánh sân bay Biên Hòa, Luyến vinh dự được kết nạp Đảng và sau trận đánh sân vận động Hố Nai, cùng lúc Luyến được phong tặng 3 danh hiệu là: Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt máy bay và Dũng sĩ diệt cơ giới, góp phần cùng đồng đội Trung đoàn Tên lửa 724 hai lần được tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân.

leftcenterrightdel

Cựu chiến binh Đinh Công Luyến.

Trong lúc Luyến đang gian khổ chiến đấu ở chiến trường miền Nam thì đơn vị tôi được lệnh hành quân sang Lào (chiến trường C) giúp cách mạng nước bạn. Xác định đây là thời cơ “chia lửa” với Luyến, tôi hăm hở hướng tới chiến trường Luang Namtha. Sau 9 ngày đêm luồn rừng lội suối, chúng tôi tiếp cận trận địa. Khói lửa chiến tranh so với chiến trường miền Nam hẳn là chưa khốc liệt bằng nhưng cái gian khổ nơi chiến trường C quả không kém. Rừng Lào mưa triền miên, hào giao thông đất nhão nhoẹt, ăn uống thiếu thốn, cả tháng trời người không tắm, áo quần không giặt được. Có lần bí mật bò sát tiền duyên lấy nước phục vụ thương binh, một chiến sĩ đã hy sinh. Tôi cùng một đồng đội khiêng nòng pháo ĐKZ 57 hành quân ra mặt trận buộc phải giẫm lên xác địch nằm ngang dưới lòng hào chật hẹp băng qua nó. Bỏ lại đằng sau mọi gian lao, chúng tôi tiến lên phía trước, dũng cảm chiến đấu. Đúng 4 giờ ngày 7-5-1962, phát huy truyền thống Điện Biên Phủ anh hùng, các mũi tiến công của ta gồm Sư đoàn 316 chúng tôi cùng Sư đoàn 330 từ Thanh Hóa vừa sang phối hợp với bộ đội Pathet Lào đồng loạt tập kích cứ điểm Luang Namtha, giải phóng một thị xã đa phần là người Lào Lùm thoát khỏi sự kìm kẹp của địch...

Chiến đấu trên hai chiến trường xong cũng là lúc chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ người chiến sĩ, người ra quân, người chuyển ngành. Luyến về quê Hà Nam, tôi chuyển về Quảng Ninh công tác cho đến ngày về hưu. Dịp kỷ niệm tròn 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi về Hà Nam quê hương, nơi 55 năm trước chúng tôi đã lên đường nhập ngũ, may mắn gặp được Luyến. Cả hai đã ở tuổi 73 mà gặp nhau cứ “mày mày, tao tao” như thời “tuổi thơ con sáo trên đồng”. Đêm hè chốn quê hương, chúng tôi chọn bến sông xưa, dưới ánh trăng mờ ngồi sát bên nhau đón gió nồm nam từ triền sông Đáy hắt lên, ôn lại những kỷ niệm. Bất giác, sống mũi tôi cay cay và hình như trong khóe mắt cựu chiến binh Đinh Công Luyến cũng đang ngấn lệ khi lần lượt nhắc tên những trai làng cùng thuở, nhiều người cũng lên đường như chúng tôi nhưng đã vĩnh viễn không trở về; họ đã hóa thân vào lòng đất trên khắp các chiến trường xưa.

Bài và ảnh: ĐINH QUANG HUY