Câu nói ấy của anh hùng Tô Vĩnh Diện trước lúc hy sinh và hình ảnh đồng đội những ngày kéo pháo trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đến giờ vẫn luôn hiển hiện trong tâm trí cựu chiến binh Phạm Đức Cư ở phường Nam Thanh, TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Ông Cư nguyên là trợ lý tham mưu thuộc Tiểu đoàn 394, Trung đoàn Pháo cao xạ 367 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1949, Phạm Đức Cư rời quê hương Thái Bình nhập ngũ theo đoàn quân tiến về phía bắc, cầm súng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Rồi bất ngờ, ông được chọn sang nước bạn huấn luyện pháo cao xạ. Hoàn thành khóa học, Phạm Đức Cư nằm trong số những chiến sĩ đầu tiên của Tiểu đoàn 394 về nước tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.
    |
 |
|
Cựu chiến binh Phạm Đức Cư. Ảnh: THÙY LÂM |
Tháng 1-1954, để tiếp cận các cứ điểm của địch, Tiểu đoàn 394 được lệnh để lại xe cơ giới, kéo pháo bằng sức người vào lòng chảo Mường Thanh. Ông Cư nhớ lại: “Đường đèo lúc ấy mới mở rất hẹp, dốc, có những đoạn trơn trượt, một bên là vực thẳm, chỉ chút sơ sẩy là cả người và pháo văng xuống vực. Mỗi khẩu pháo nặng khoảng 2,4 tấn, để kéo được vào trận địa phải cần 80-100 người. Bảo đảm bí mật, việc kéo pháo tiến hành trong đêm. Không được soi đèn, chúng tôi cử hai chiến sĩ khoác mảnh dù trắng đi trước làm hoa tiêu. Qua bãi lầy thì anh em vác đá kè và chặt cây rừng rải xuống. Mỗi đêm vất vả lắm nhưng bộ đội cũng chỉ kéo được khẩu pháo dịch chuyển hơn 1km. Giày dép hư hỏng, cứ chân không đạp đất, quần áo bê bết cả mồ hôi lẫn máu...”. Ông Cư nhớ mãi một đêm cùng đồng chí Phạm Đăng Ty, Chính trị viên Tiểu đoàn 394 đi kiểm tra. Nhìn núi rừng mênh mông, đường đi hiểm trở, Phạm Đức Cư bày tỏ sự lo lắng không biết khi nào mới đưa hết pháo vào trận địa. Chính trị viên Phạm Đăng Ty trả lời khiến ông vững dạ: “Dốc cao nhưng không bằng chí căm thù em ạ. Khó khăn đấy nhưng ta phải nhớ lời Bác dạy: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”. Và rồi, sau gần 10 đêm gian khổ, hàng chục khẩu pháo đã được kéo vào trận địa. Tiểu đoàn 394, Tiểu đoàn 383 bố trí thế trận hình cánh cung, thành lưới lửa phòng không khống chế vùng trời Điện Biên.
Nhưng, chưa hoàn lại sức thì hôm sau toàn đơn vị nhận được lệnh, ngay trong đêm 26-1-1954 phải kéo pháo ra khỏi trận địa. “Chúng tôi bàng hoàng cả người. Anh Ty thông báo tình hình có nhiều thay đổi, ta không thể áp dụng “đánh nhanh, thắng nhanh” mà chuyển hướng sang “đánh chắc, tiến chắc”. Lúc ấy, sức lực anh em gần như cạn kiệt, hai hố mắt trũng sâu vì thiếu ăn, mất ngủ, chân tay rách xước, máu trộn bùn đất. Các đồng chí nuôi quân cũng cơ động theo đơn vị, vất vả lắm mới nấu được cho mỗi người hai nắm cơm ăn kèm mắm”-kể đến đây, mắt ông Cư rơm rớm.
Kéo pháo vào đã khó, kéo pháo ra càng khó hơn. Và đơn vị đã không tránh khỏi tổn thất. “Đó là đêm 1-2-1954, Đại đội 827 kéo pháo ra đến Dốc Chuối, đồng chí Tô Vĩnh Diện cùng một pháo thủ phụ trách điều khiển càng pháo để định hướng. Bất ngờ quân Pháp bắn pháo từ Mường Thanh lên. Bộ phận kéo giữ pháo nằm rạp xuống, dây tời bị đứt. Pháo thủ Lê Văn Chi bị càng pháo hất xuống vực, pháo trôi dần về phía vực sâu. Anh Tô Vĩnh Diện lấy sức đẩy càng pháo hướng đâm vào vách núi. Cản được pháo lăn xuống vực nhưng anh bị bánh xe của khẩu pháo nặng hơn hai tấn đè lên người. Giây phút cuối cùng, anh vẫn cố hỏi: “Pháo có sao không?”, ông Cư kể.
Dù vất vả, chịu cả những tổn thất về người, với 3 lần kéo pháo bằng sức người, Tiểu đoàn 394 đã cùng các lực lượng hoàn thành nhiệm vụ đưa pháo vào trận địa. Phối hợp với pháo mặt đất, các đơn vị pháo cao xạ được lệnh sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ các đơn vị bộ binh bao vây tiến công địch. 3 ngày sau khi mở màn chiến dịch, địch đã mất 3 vị trí quan trọng của phân khu 1 ở phía bắc. Địch điên cuồng nã pháo 105mm, 155mm, huy động các loại máy bay bắn phá ác liệt. Ông Cư nhớ lại: “Những người lính pháo cao xạ đầu đội mũ sắt vẫn kiên gan trên mâm pháo nhằm thẳng quân thù mà bắn. Bom đạn nổ ầm ầm rung chuyển trời đất. Đại đội 827 của Tiểu đoàn 394 bị hai quả bom trúng trận địa khiến Đại đội trưởng Dương Bá Xanh, Đại đội phó Bùi Văn Phú và một số pháo thủ hy sinh, bị thương. Ngay lập tức, chúng tôi cùng cán bộ tiểu đoàn xuống tận trận địa, tổ chức lại đội hình chiến đấu với khẩu hiệu: Còn một người, một khẩu pháo, một viên đạn cũng chiến đấu tới cùng”...
THÙY NGÂN