Và câu chuyện của CCB Hoàng Kim Khải, nguyên cán bộ xưởng mẫu thuộc Nha NCKT, sau này là Giám đốc Nhà máy Z133, Tổng cục Kỹ thuật mà chúng tôi thu thập được dưới đây là trong những một hồi ức đẹp đó.

Một ngày tháng 5-1947, tôi đang ở Bản Thi (chợ Đồn, Bắc Kạn) thì gặp lại anh Nguyễn Đức Việt. Anh là người Đức, đã rời bỏ quân đội viễn chinh Pháp sang đứng trong hàng ngũ chúng ta. Chúng tôi biết nhau mấy tháng trước và đã cùng nhau chế thử súng phóng lựu, thủy lôi khi còn ở Xưởng B2 thuộc Quân giới khu 2. Bấy giờ anh công tác tại Nha NCKT, Cục Quân giới đóng ở Khe Khao. Anh rủ tôi sang đây với anh vì theo anh nói, ở đó lập ra một xưởng mẫu nhưng rất thiếu người. Tôi đồng ý. Anh trở về báo cáo với cơ quan, thế rồi ít lâu sau tôi nhận được quyết định điều động tới làm việc tại Nha NCKT.

Xưởng mẫu có danh nghĩa là một xưởng máy nhưng nó rất nhỏ. Khi tôi đến, số công nhân của xưởng đếm được trên đầu ngón tay: Anh Sâm thợ tiện; ông Kính, người địa phương, thợ rèn; anh Hồng phụ rèn; anh Inh quay máy. Thiết bị có một máy tiện, một máy phay, một máy dập vít-me. Tất cả đều phải quay tay vì không có điện, cơ sở thì bé nhưng nhiệm vụ của xưởng thì lớn như danh nghĩa của nó, tức là xưởng phải gia công mọi thứ cần thiết cho các phòng nghiên cứu, cả chế thử sản phẩm khi cần.

Ngay trong những tháng đầu, xưởng đã được giao nhiệm vụ chế thử đạn chống tăng AT. Biết bao nhiêu khó khăn hiện ra trước mắt. Nhưng tuổi trẻ không sợ khó. Chúng tôi lấy tôn cánh cửa ô tô hỏng làm nguyên liệu, lấy gò làm công nghệ chính để chế thân đạn, chóp, ống đuôi và cánh. Bộ phận nào không gò được thì tiện, kể cả nón đồng. Tất nhiên là làm rất chậm, đạn không đều, không đẹp, phần lớn đã vỡ khi bắn thử. Nguyễn Đức Việt bèn đề nghị một phương án dập đạn bằng máy ép vít. Phòng Cơ khí, các đồng chí phụ trách nha đều tán thành. Bắt tay thực hiện phương án này, Việt chịu trách nhiệm đưa ra các bản vẽ, chúng tôi chịu trách nhiệm gia công. Mỗi lần không thành, lại rút kinh nghiệm và làm lại. Cuối cùng rồi cũng hoàn thành. Quả đạn AT lúc này mới đẹp làm sao. Sau khi đã nhồi thuốc, đưa ra bắn thử, các yêu cầu về thăng bằng, về độ xuyên đều đáp ứng thiết kế. Cả Nha NCKT phấn khởi. Xưởng tiếp tục hoàn chỉnh quy trình chế tạo, Phòng Cơ khí lập hồ sơ kỹ thuật rồi nha báo cáo lên Cục Quân giới. Theo lệnh cục, từ nhiều nơi, các xưởng lần lượt cử người đến Khe Khao học tập. Hơn hai mươi năm sau nữa, trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, công nghệ dập AT vẫn được thực hiện ở Nhà máy quân giới Z117.

Năm 1948, Nha NCKT chuyển về Đồng Chiêm ở phía nam thị xã Tuyên Quang. Ở đây, chúng tôi quen gọi là Đĩa, công việc đáng ghi nhớ nhất là nghiên cứu súng không giật - SKZ 60. Phòng Xạ thuật và Phòng Cơ khí thiết kế súng và đạn, xưởng mẫu chịu trách nhiệm chế thử. Nguyên liệu dùng làm nòng súng là trục bánh xe tàu hỏa, làm bầu đạn là tôn thép, làm chuôi đạn là gỗ nghiến. Đạn thí nghiệm là một thỏi chì có cùng trọng lượng với đạn thật. Mục đích của giai đoạn nghiên cứu thứ nhất là xác định đường kính tuye (ống phụt) vừa đủ để xóa bỏ chuyển động giật lùi của nòng. Phương pháp thí nghiệm là đặt nòng súng, chứa thuốc và đạn chì trên một chiếc xe trượt có thể lăn bánh xe dọc hai thanh đường ray. Sau mỗi lần bắn thí nghiệm, Phòng Xạ thuật căn cứ vào mức độ di động của xe trượt tính lại đường kính tuye, rồi xưởng mẫu tiện một tuye khác thay thế. Sau nhiều lần thử, cuối cùng đã tới những phát bắn không làm chuyển động xe trượt. Tất cả mọi người đều vỗ tay reo mừng. Đến đây thỏi chì được thay bằng đạn giả nhồi cát có hình dáng như đạn thật để thí nghiệm ngòi đạn, sơ tốc, thăng bằng, thước ngắm. Cuối cùng, cuộc bắn đạn thật nhồi thuốc nổ đã xác định chắc chắn độ xuyên sâu. Với cỡ bầu 120mm, viên đạn lõm này có sức xuyên ghê gớm, 60cm bê tông, đủ chọc thủng tất cả các lô cốt và boong ke của Pháp lúc đó. Bản vẽ được đưa cho các xưởng quân giới Khu 10 để sản xuất và một thời gian ngắn sau SKZ 60 đã lên đường ra trận trong Chiến dịch Lê Hồng Phong, làm sụp đổ nhiều đồn trại địch.

Về sau, chúng tôi vừa chế thử những vũ khí khác đã nghiên cứu tại Nha NCKT như: SKZ 81, SKZ 120, cối 120mm, cối 182mm..., vừa đào tạo thợ mới và tìm cách nâng cao trình độ cho chính mình. Đối với tôi, những hồi ức về xưởng mẫu Nha NCKT vừa là kỷ niệm thân yêu vừa là bài học sâu sắc. Ở đây tôi đã cống hiến tuổi trẻ cho đất nước, đã kết bạn cùng bao anh em chung chí hướng, chung những ngày chia ngọt sẻ bùi. Tôi cũng vô cùng tự hào khi nghĩ rằng những nhà máy quốc phòng của chúng ta ngày nay có quy mô to lớn và trang bị hiện đại, đã phát triển lên từ những xưởng nhỏ như xưởng mẫu Nha NCKT.

HOÀNG KIM KHẢI