Từ nhỏ, Đào Hinh được cha dạy chữ Nho, lớn lên theo Tây học, là sinh viên Trường nam Sư phạm ở Hà Nội và sớm có lòng yêu nước. Năm 1925, tốt nghiệp Trường nam Sư phạm, lẽ ra đi dạy học nhưng ông Hinh đi làm thư ký bưu điện ở Hải Phòng. Năm 1926, ông vào Sài Gòn, cùng ông Trần Huy Liệu lập ra Cường học thư xã, chuyên biên tập, in ấn sách báo cổ xúy cho tinh thần yêu nước. Do bị phát giác và thực dân Pháp theo dõi, năm 1928, ông Hinh quay trở ra Bắc, gặp Nguyễn Thái Học, Phạm Tấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu… là những yếu nhân của Việt Nam Quốc dân Đảng và gia nhập đảng này. Ông được bầu làm Tổng ủy, đồng thời được cử làm Tổng trưởng Ngoại giao (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) của Việt Nam Quốc dân Đảng.

Đêm Giao thừa Tết Mậu Tý (ngày 9-2-1929), Quốc dân Đảng tổ chức ám sát, giết chết tên Ba-zin (Alfred Francois Bazin), một tay thực dân khét tiếng gian ác ở trước nhà số 110 Phố Huế. Cái chết của Ba-zin khiến Sở Liêm phóng Đông Dương mở cuộc càn quét gắt gao, bắt hơn 200 người, trong đó có ông Hinh, đưa ra Hội đồng Đề hình xét xử. Ngày 3-7-1929, Hội đồng tuyên án 78 người bị tù từ 2 đến 15 năm, cộng thêm 5 năm biệt xứ. Ông Đào Hinh bị tuyên án 10 năm cấm cố, giam ở Nhà tù Hỏa Lò, đến cuối năm 1930, thực dân Pháp lại đưa ông Hinh ra Nhà tù Côn Đảo. 

leftcenterrightdel
Bác Hồ cùng đồng chí cán bộ Trung ương Đảng và đồng chí Đào Hinh (người mặc quần áo trắng, thứ 3 từ phải sang).

Trong thời gian ở Nhà tù Côn Đảo, ông đã giác ngộ chủ nghĩa cộng sản. Năm 1937, nhờ phong trào Mặt trận Dân chủ đấu tranh, ông Hinh được trả tự do cùng đợt với ông Phạm Văn Đồng. Trở về, ông tiếp tục hoạt động ở Hà Nội, làm Bí thư Công nhân cứu quốc Khu nam Hà Nội, tham gia xây dựng chi bộ đầu tiên ở Nhà máy Rượu Hà Nội (nay là Công ty CP Cồn rượu Hà Nội-HALICO) và Nhà máy AVIA. Tối 30-4-1940, ông về làng quê, lợi dụng trời tối, treo lá cờ đỏ búa liềm trên ngọn cây đa giữa làng Cự Khối (hiện nay, tại đây đặt tấm bia ghi dấu sự kiện này). Giữa lúc thực dân Pháp đang đàn áp thì lá cờ Đảng tung bay đã khích lệ, cổ vũ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng ở các địa phương trở nên sôi nổi và mạnh mẽ hơn...

Bà Đoàn Tâm Đan sinh năm 1904, ở Thanh Oai (Hà Tây trước đây), là một nhà giáo, nhà thơ, nhà hoạt động yêu nước từ đầu những năm 20 của thế kỷ trước. Sau này, bà là Đại biểu Quốc hội Khóa I, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao nhiều trọng trách, góp phần xây dựng nền giáo dục, văn hóa mới của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ.

leftcenterrightdel
Bà Đoàn Tâm Đan - ảnh chụp năm 1929.

Vào ngày 24-9-1936, bà Đoàn Tâm Đan chủ trì hội nghị gồm 40 phụ nữ tiêu biểu của cả nước, họp ở trụ sở Hội Trí Tri, phố Hàng Quạt, Hà Nội để bàn việc thảo tập “Dân nguyện”. Hội nghị đã bàn về những vấn đề: Mở trường phổ thông riêng cho nữ giới, không hạn chế tuổi; phụ nữ phải có quyền bầu cử, thành lập các tiểu ban để tập hợp nguyện vọng của phụ nữ các ngành nghề, như các ban Lao động, Thương mại, Nông giới, Công giới, Hộ sinh, Công chức các sở, Giáo giới, Báo giới… Cuộc họp này được báo chí lúc đó đánh giá là “Lần thứ nhất ở Đông Dương nữ giới ba kỳ biết hiệp hội để làm chính trị”.  

Ngày 3-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 44, cử bà vào Ban Trung ương Vận động Đời sống mới cùng với các học giả, nhân sĩ nổi tiếng, do ông Trần Huy Liệu làm Trưởng ban. Bà còn tham gia Ban Tu thư, soạn Chương trình giáo dục mới; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Hà Nội; được bầu vào Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội khóa I. Năm 1954, bà được bầu là Chiến sĩ thi đua toàn quốc ngành giáo dục.

Chuyện tình của ông Hinh và bà Đan bắt đầu từ năm 1924, khi đó cả hai đang là sinh viên Trường Sư phạm, nhưng phải đến năm 1937, sau gần 10 năm xa cách và 13 năm hẹn ước, hai ông bà làm lễ cưới và tiếp tục hoạt động cách mạng. Đầu thập niên 1930, khi ông Hinh bị giam cầm, bà Đan đã viết nhiều bài thơ để tỏ thương nhớ với người mình yêu và cổ vũ khí phách, không sợ áp bức tù đày.

Tết năm Ất Mùi 1955, khi đang chúc Tết cán bộ, nhân viên Nhà máy Rượu Hà Nội, không may ông Hinh đột ngột bị tai biến và qua đời. Khóc chồng, bà Tâm Đan viết những câu thơ: “Tin đâu sét đánh ngất từng cơn/ Nước mắt khôn rơi dạ chẳng sờn/ Đắm đuối vì con nuôi dạy lớn/ Vì ai cố gắng - Vì giang sơn”.

Xuất thân vốn thuộc dòng dõi quan lại, nhưng có tinh thần yêu nước, ông Đào Hinh và bà Đoàn Tâm Đan sớm có ý thức dân tộc để rồi trở thành những người con nhiệt huyết, thủy chung, son sắt với cách mạng, với Đảng và có nhiều công lao. Ông bà đều được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập, Huân chương Kháng chiến và nhiều danh hiệu cao quý khác. Ba người con của ông bà đều là cán bộ của Đảng, quân đội.

NGUYỄN CHÍ HÒA