Sau 3 tháng, vết thương liền sẹo, tôi tưởng phải phục viên khi miền Nam còn đầy giặc xâm lược. Nhưng quân lực của Trung đoàn 284, Sư đoàn 367 đã nhận tôi về làm pháo thủ phòng không tại Đại đội 10, Tiểu đoàn 15. Tại đây, tôi được sống và có nhiều kỷ niệm với anh Nguyễn Văn Hưng quê Phú Thọ. Anh hơn tôi hai tuổi, nhập ngũ trước tôi hai năm, là trung sĩ phụ trách khẩu đội trưởng, còn tôi là hạ sĩ, từng chiến đấu bộ binh, nay về làm pháo thủ 37mm phòng không, tôi phải học thao tác trên mâm pháo rất căng thẳng, vừa học vừa bắn máy bay Mỹ ngày đêm. Ngoài tập luyện theo chương trình của cấp trên, anh Hưng còn kèm cặp, hướng dẫn tôi sớm quen với chức trách, nhiệm vụ. Có thời gian nghỉ ngơi, anh hay kể chuyện gia đình cho tôi nghe. Anh có người yêu tên Hưởng cùng quê, kém anh hai tuổi, tình yêu nồng nàn say đắm, nhưng do cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bùng nổ, anh chưa kịp cưới đã tòng quân. Những ngày mới vào quân ngũ, đơn vị đóng quân tại Hà Nội bảo vệ sân bay Gia Lâm-cầu Thăng Long, Hưởng từ Phú Thọ đến thăm anh luôn.

Theo yêu cầu của chiến trường, đơn vị phải hành quân vào Quân khu 4 bảo vệ sân bay Vinh, rồi sân bay Đồng Hới. Hai người chỉ trao đổi với nhau bằng thư từ, lá được lá mất.

Năm 1967, Hưởng học hết cấp 3, cô xin nhập ngũ để được hòa mình vào cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của tuổi trẻ cả nước. Cô được biên chế vào một đội điều trị quân y của Quân khu 1 tăng cường cho Mặt trận Trị Thiên. Cùng thời gian, đơn vị chúng tôi tham gia Chiến dịch Đường 9-Nam Lào và bảo vệ giao thông tuyến Tây Trường Sơn. Do có sự biến động rất nhanh về quân số, tôi được điều làm quản lý đại đội, còn anh Hưng làm Tiểu đội trưởng nuôi quân. Cuối năm 1971, đơn vị phải kéo vũ khí trang bị về nước vì nước bạn Lào đã vào mùa mưa. Tôi chấp hành mệnh lệnh cấp trên bàn giao chức trách quản lý đại đội cho anh, còn tôi được phân công phụ trách đại đội phó. Đón tết, chúng tôi quán triệt nhiệm vụ mới tại miền biên giới Quảng Bình.

Một buổi chiều rảnh rỗi, anh Hưng cho tôi biết Hưởng đã vào Quảng Bình nhưng chưa rõ ở huyện nào. Anh háo hức, hồi hộp mong ngóng tin để xin phép đại đội đến gặp người yêu. Bỗng đơn vị được lệnh hành quân gấp, vượt sông Bến Hải cùng các quân binh chủng ào ạt tấn công quân địch, giải phóng Quảng Trị. Khi chiếm lĩnh sân bay Ái Tử, đơn vị đang chi viện đắc lực cho bộ binh chiếm giữ thành cổ, máy bay B-52 đánh trúng đội hình đại đội, hai đồng chí bên cạnh tôi là Nga và Ngọ hy sinh. Tôi bị thương nặng. Anh Hưng cùng đồng đội đã đưa tôi vào trạm phẫu 204 (của Quân khu 2 tăng cường) cấp cứu. Từ biệt tôi, anh đã khóc vì biết rằng tôi không thể trở lại đơn vị để chỉ huy và sống gần nhau nữa. Anh nhét vào ba lô của tôi một gói nhỏ, trong đó có xà phòng thơm, lọ nước hoa, mấy chiếc bút bi và phong bì in cánh sen rất đẹp. Tất cả là những chiến lợi phẩm thu được từ lính Mỹ bỏ chạy, kèm một lá thư phía ngoài đề “Gửi Hưởng ở Đội điều trị 112”.

Sau khi sơ cứu, tôi được bó bột toàn thân, chỉ trừ cổ và cánh tay phải. Rồi mọi người cho tôi lên ô tô tải, vượt qua Cam Lộ, Gio Linh, qua sông Bến Hải trên chặng đường đầy hố bom, hố pháo, xe xóc, pháo binh địch lại bắn đuổi liên tục làm tôi thêm đau đớn. Đến địa bàn xã Hiền Ninh (Quảng Bình) trên Đường 15 thì máy bay Mỹ phát hiện. Chúng thả hàng chục pháo sáng, bắn đạn 20mm, ném bom bi, xe phải dừng lại. Đồng đội và dân quân ở đó vừa đưa tôi xuống xe, cho vào chiếc hầm tránh bên đường thì ô tô trúng đạn bốc cháy. Thư từ của đồng đội gửi ra Bắc, trong đó có gói quà anh Hưng gửi cho Hưởng đều cháy hết, tôi tiếc xót vô cùng.

Không còn phương tiện để đi tiếp. Số thương binh và tôi được mọi người đưa vào Đội điều trị 112. Đúng như anh Hưng dự kiến, tại đây, tôi phải mổ lấy mảnh bom bằng 4 đốt ngón tay nằm trong đùi phải. Khi hết thuốc gây tê tôi tỉnh lại, mở mắt thấy một cô y tá đang chăm sóc, tiêm, truyền dịch. Cô y tá tỏ thái độ vui mừng nói: “Anh Ngọc tỉnh rồi à! Anh ngủ sâu quá! Em là Hưởng, bạn của anh Hưng đây”.

Sau đó Hưởng vẫn luôn trực bên tôi, cô kể rằng: “Anh Hưng đã giới thiệu với em trong thư là có anh Ngọc kết nghĩa anh em ở đơn vị. Nay nhìn hồ sơ bệnh án em đoán là anh rồi”. Tôi được Hưởng chăm sóc tận tình bao nhiêu, càng tiếc xót chiếc ba lô bị cháy bấy nhiêu. Các tuyến đường bị máy bay địch kiểm soát, gây tắc, tôi phải điều trị ở đội 112 chừng hai tháng. Khi chuyển đi, Hưởng còn đưa tôi ra tận ô tô, tôi thấy cô xúc động và nói: “Nhớ biên thư cho em, anh Ngọc nhé”.

Chiến tranh kết thúc, tôi về sống với mẹ hiền ở quê hương, bên lũy tre làng ấm áp yêu thương. Có độc lập-tự do, có cơm no, áo mặc, nhưng tôi không quên đồng đội sâu nặng nghĩa tình. Dù mang thương tật nặng, tôi đã đi tìm được nhiều đồng đội còn sống trên cả nước. Riêng về anh Hưng và Hưởng thì chưa có hồi âm. Không rõ anh chị Hưng-Hưởng có được hạnh phúc bên nhau không? Hay đã có người ngã xuống trên mặt trận giải phóng Quảng Trị năm 1972?...

ĐẶNG SỸ NGỌC