Ở làng Bờ Dọc, xã An Lạc, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương có một câu chuyện đời thường nhưng vô cùng cảm động. Chuyện xảy ra từ những năm 60 của thế kỷ trước, rất thực nhưng lại phảng phất nét cổ tích xưa…

Chuyện thế này: Thời ấy, trong làng có người thanh niên Mạc Văn Tôn, mồ côi cha từ lúc 5 tuổi. Nhà nghèo, neo người, công việc nhà nông quanh năm cày cấy, lại thêm trồng trọt khoai sắn trên đồi, thật vô cùng khốn khó. Người mẹ góa bụa đã nghĩ đến việc lấy vợ sớm cho con trai, giúp việc ruộng vườn, để con đi học kiếm cái chữ, sau này đỡ khổ.

leftcenterrightdel
 Thương binh Mạc Văn Tôn.

Thế nhưng, vì thương mẹ và vợ, anh Tôn chỉ theo học hết cấp 2 là rẽ ngang đi thi chuyên nghiệp, rồi đỗ bằng trung cấp cơ khí chế tạo. Đấy là năm 1965 đáng ghi nhớ. Ngày ấy, cả đất nước đang sục sôi tinh thần thanh niên “Ba sẵn sàng” tòng quân lên đường ra trận tuyến. Mạc Văn Tôn đã tình nguyện xin gia nhập quân đội và được bổ sung vào Đơn vị 285 Tên lửa phòng không bảo vệ vùng trời Hải Phòng, Hà Nội. Là cán bộ kỹ thuật, anh Tôn được phân công ở phía sau sửa chữa khí tài phục vụ chiến đấu. Thế nhưng ngày đêm anh chỉ khát khao được ra trận địa, cùng đồng đội đối mặt với quân thù. Đã ba, bốn lần anh làm đơn và kiên trì chờ đợi, cuối cùng nguyện vọng của Tôn cũng được đáp ứng.

Ngày 11-5-1966, trong một trận đánh máy bay Mỹ, bảo vệ vùng trời Hạ Long, Tiểu đoàn 73 của anh đã phóng hai “con rồng lửa” bắn cháy hai máy bay giặc. Và trận ấy, anh đã dính 10 mảnh đạn, khi mới 23 tuổi xuân...

Như con chim đang bay vào trời rộng bị gãy cánh, Tôn đau khổ vô cùng.

Hơn một năm điều trị, Tôn phải chịu đựng những ca phẫu thuật và những cơn đau hành hạ liên miên. Đôi chân anh teo tóp dần, mềm oặt như hai dải khoai nước bị phơi nắng.

Những chiều đổi gió, các khớp xương đau nhức tựa như có hàng nghìn con kiến đốt trong tủy, máu ứa chân răng, người ngoài nhìn thấy rùng mình. Anh mặc cảm, chán chường, không báo tin cho gia đình biết. Anh sợ rằng khi nhìn cảnh tượng này, những người thân yêu, nhất là vợ anh không thể cầm lòng. Nhưng chuyện ấy sao giấu được mãi. Biết tin, chị Nguyễn Thị Bẩy-vợ anh-hối hả đi tìm chồng.

Nhìn thấy tấm thân tàn tạ của anh, chị tưởng như đứt từng khúc ruột. Chị không thể ngờ rằng số phận lại đến nỗi này. Từ ngày Mạc Văn Tôn còn đang học cấp hai trường huyện, chị đã về làm dâu nhà anh. Đối với Tôn, chị có bổn phận làm vợ, đồng thời cũng như một người chị bởi một nhẽ: Vợ hơn chồng đến bốn, năm tuổi!

Từ khi về làm dâu, sức vóc rộng dài, chị vào rừng kiếm củi, ra ruộng cấy cày, vạt tép, mò cua để nuôi mẹ già và nuôi chồng ăn học mà thấp thỏm đợi chờ… Ngày Tôn học xong chuyên nghiệp, chuyển sang quân ngũ, chị cũng thầm ao ước có một đứa con, nhưng chưa thành… Còn bây giờ, nhìn cảnh chồng nằm liệt trên giường bệnh, như một túm giẻ, lòng chị tan nát thành từng mảnh, khóc rền rĩ suốt mấy ngày đêm.

Sau này, khi bệnh tình Tôn đã thuyên giảm, mỗi lần chị Bẩy lên bệnh viện thăm anh, anh đều giục về sớm để lo việc gia đình, hợp tác xã: “Em ở trên này, quê nhà ruộng vườn không ai trông nom, mẹ già không ai chăm sóc, càng khổ thêm cho nhau”. Chị nấc lên: “Nếu thế, em đón anh về nuôi dưỡng, em mới yên tâm”. Anh lại bảo: “Anh chân yếu thế này, làm sao đi được?”. Chị nói: “Em sẽ cõng!”. Anh Tôn lắc đầu: “Nhưng cõng một chốc một lát còn được, em còn bận bao nhiêu việc khác...”. Chị Bẩy gạt nước mắt: “Em cõng suốt đời!”.

Năm 1970, chị kiên quyết xin đón anh về nhà và thật sự nuôi chồng từ đó. Vậy là vợ cõng chồng sớm, khuya, chiều, tối; bế đi ngủ, cõng đi ăn, đi làm mọi việc, cả những lúc anh cần “bài tiết”… Mỗi khi chồng buồn, chị biết pha trò cho chồng vui.

Những năm 70 của thế kỷ trước chưa có xe lăn, đường làng gồ ghề, trời mưa thì trơn như mỡ, việc di chuyển thật gian khổ vô cùng... Anh tính hiếu động, thích xem phim, nghe ca hát. Nhiều lần chị Bẩy cõng anh đi sớm, kiếm một chỗ ngồi sát màn chiếu phim hoặc sân khấu, để không ai có thể chen lấn, xô đẩy hay giẫm lên anh. Tấm vải bạt trải ra, anh nửa nằm nửa ngồi như con ếch giữa đám trẻ con, chăm chú xem. Hết buổi, tấm bạt lại phủ lên tấm thân rệu rã, lủng lẳng hai chân đung đưa bên hông, hai vợ chồng lầm lũi giữa màn đêm về nhà. Hàng xóm nhìn vào cũng thấy khổ tâm.

Khổ là thế nhưng trời đất ban cho chị mát tay nuôi chồng. Chị để dành từ quả chuối trong vườn, quả ổi đào thơm ngọt, quả cam của dân làng cho đến lạng đường hoa mai phân phối của hợp tác xã nông nghiệp cho anh. Chị nuôi gà đẻ lấy trứng, để dành cho anh bồi bổ… Kiếm được con cá, chị cũng dành khúc nạc cho mẹ, cho chồng…

Mảnh đất quê hương và tình yêu của người vợ truyền cho anh sức sống. Như cây tre giữa mùa xuân bật mầm măng. Thật diệu kỳ, năm 1971, chị sinh con trai. Hạnh phúc đến như giấc mơ, Tôn càng ham yêu cuộc sống. Năm 1976, anh làm thủ tục về ở hẳn quê, cùng vợ nuôi các con.

Người thương binh ấy tuy “tàn” nhưng không chịu “phế”. Anh hướng dẫn con chăn vịt đẻ, vịt đàn. Chân hỏng, nhưng anh còn khối óc. Anh đấu thầu đầm ao, bày cách cho các con đơm đó, bắt cá… cải thiện bữa ăn gia đình. Ngôi nhà tình nghĩa mà xã và huyện xây tặng đã giúp cuộc sống gia đình anh chị vơi nhiều gian khổ. Ngôi nhà ven đường làng Bờ Dọc dần dần ấm áp.

Chị sửa xe đạp, bơm vá cho người qua đường kiếm thêm vài hào diêm lửa. Anh ngồi xe lăn bên cạnh nói chuyện và giúp việc vặt làm vui. Chị mua đồ nghề cắt tóc, trước là cắt cho chồng con, sau là cho người ngoài. Bàn tay thô mộc của người đàn bà ruộng đồng cũng tập cầm kéo lược, cũng tông đơ, lách cách chai sạn giữa cuộc đời.

Bàn tay chị không chỉ xoa vuốt vết đau cho anh, còn biết làm đẹp cho anh, làm nên cuộc đời. Đôi vai chị đã gồng gánh cả giang sơn cơ nghiệp nhà chồng mấy chục năm, nuôi mẹ chồng tận tụy cho đến ngày mẹ quy tiên ở tuổi 87.

Rồi năm tháng cứ qua đi, cách gọi “anh Tôn”, “bác Tôn” rồi “ông Tôn” nghe quen tai tự bao giờ.

Người làng đến chơi, nghe ông kể cảnh sinh hoạt của mình, có ai đó thốt lên: “Bác quả là một người nghị lực, đáng khâm phục”, nhưng người thương binh ấy bảo: “Không! Người có nghị lực phi thường, đáng khâm phục là vợ tôi kia! Ngót 50 năm cõng chồng, đôi vai ấy còn gánh vác cả giang sơn cơ nghiệp nhà họ Mạc. Có thể rồi đây bà ấy còn cõng đến khi tôi về với đất”. Lại có lần ông Tôn khoe với bạn học thời trung cấp chuyên nghiệp về thăm: “Bạn biết không, bà ấy là lực sĩ khỏe nhất, bền bỉ nhất thế giới của đời tôi!”.

Khách càng cảm thấy sững sờ hơn khi biết ông bà đã vào tuổi ngoài bảy mươi, có bốn người con-hai trai, hai gái-và 8 cháu nội ngoại khỏe khoắn. Nếu không nhìn thấy xe lăn, không thấy chủ nhân nửa nằm nửa ngồi trên giường đệm thì chẳng ai nhận ra đây là ngôi nhà của vợ chồng người thương binh đã sống như trong câu chuyện cổ tích.

Nhưng rồi, tháng 1-2016, bà Bẩy qua đời sau mấy năm bị tai biến. Ban đầu còn nhẹ, rồi sau vài năm bệnh tái phát nặng dần, bà chỉ còn nằm bệt trên giường. Rồi bà về với đất trước ông. Thế là lời tâm nguyện của bà không thực hiện được. Ông Tôn ngồi xe lăn, ngước lên tấm ảnh vợ đặt trên ban thờ, nén nỗi đau, lầm rầm gọi: “Bà ơi, bà là người có tấm lòng vàng, đã cho tôi hạnh phúc. Bà đã hy sinh tất cả cho chồng con. Có bà, tôi như cây khô được đâm cành nở hoa. Thật tiếc lắm, đang lúc hạnh phúc, bà lại bỏ đi...”.

Vợ mất, người thương binh đặc biệt vẫn ráng sức, tự lực cánh sinh làm những việc mà vợ ông khi còn sống vẫn làm giúp. Các con đi làm xa, chỉ có cô con gái thứ hai và cháu ngoại ở với ông sớm hôm giúp đỡ. Với số tiền gần 7 triệu đồng được Nhà nước trợ cấp hằng tháng, ở làng quê, cuộc sống cũng tạm ổn, ông vẫn lạc quan sống, thỉnh thoảng còn làm thơ cho vui, đợi đến ngày ông về với bà ở bên kia thế giới.

Bài và ảnh: KHÚC HÀ LINH