Vũ Đình Văn học khóa 1969-1973, nhập ngũ tháng 12-1971. Anh quê ở làng Tư An, xã Đại Thắng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Dòng họ Vũ có nghề làm thuốc bắc ở làng, đến đời ông Vũ Văn Chấp (bố Vũ Đình Văn) thì chuyển cả nhà lên phố Lãn Ông, Hà Nội, tiếp tục làm nghề thuốc. Vũ Đình Văn học phổ thông rồi đại học ở Hà Nội nhưng nặng lòng với quê, luôn về quê, bởi trên cánh đồng làng Tư An còn có ngôi mộ mẹ của anh-bà Đỗ Thị Hạ.

Các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn và các anh chị cùng khóa luôn tự hào kể về chàng sinh viên Vũ Đình Văn có biệt danh “người thơ” bởi dáng vẻ nho nhã, hiền hậu, tinh tế, có nhiều thơ hay về đời sinh viên, về tình yêu, nhất là tiếng thơ say mê lý tưởng đánh Mỹ bảo vệ Tổ quốc. Năm 1969, anh thi vào Khoa Ngữ văn, theo người thân và bạn bè kể lại, bài thi được anh thể hiện bằng một bài thơ. Không vi phạm quy chế, cũng không lạc đề, giám khảo cho điểm khá cao. Điều ấy cho thấy anh mê thơ, say thơ, chọn thơ làm phương tiện thể hiện quan điểm, tấm lòng, tâm trạng. Khi là sinh viên, thơ anh nhiều mơ mộng, lạc quan, vẫn đậm chất say mê, giàu tinh thần trách nhiệm của người thanh niên với Tổ quốc, với tình yêu. Theo lời các thầy gần gũi Vũ Đình Văn, trong đó có GS Lê Trí Viễn kể, anh là người có hiếu với cha mẹ. Điều ấy được thể hiện trong thơ, qua bài “Lạy mẹ con đi”, anh viết trước ngày lên đường ra trận. Văn về quê, quỳ bên mộ mẹ, những câu thơ đau xót bật ra: “Ở đây lạnh lắm mẹ ơi/ Về đi kẻo ốm mất thôi mẹ à/ Ở đây không cửa, không nhà/ Hàng dương cuối bãi tha ma rụi tàn...”. Vẫn theo thầy Viễn kể, bài thơ hoàn thiện trên chuyến tàu khuya đêm 22-12-1971, từ Nam Định về Hà Nội. Mấy ngày sau anh nhập ngũ...

leftcenterrightdel
 Di ảnh nhà thơ, liệt sĩ Vũ Đình Văn (1951-1972). Ảnh tư liệu

Vũ Đình Văn được biên chế trong một đơn vị huấn luyện tân binh gấp ở Hà Trung (Thanh Hóa). Thời gian này, anh sáng tác “Đêm gác miền Trung” (viết ngày 19-1-1972), rất thật một tâm trạng xôn xao, nóng bỏng khát vọng hòa bình: “Lần đầu tiên trong đêm thấy sóng/ Nóng bỏng lòng anh một ngọn sóng dài/ Khi mà hồn sóng vỗ chẳng nguôi ngoai/ Miền Trung ơi, hãy bình yên ngủ nhé”. Bài “Hoa xương rồng gai và hoa mười giờ” (viết ngày 14-1-1972, sửa lại ngày 27-2-1972) mang phong cách “thơ sinh viên”: “Những lùm hoa hẹn buổi ta ngồi/ Và những lùm hoa hẹn giờ đi đánh giặc/ Đều nở đỏ cả đôi bờ Nam-Bắc/ Một loài hoa đều giống một màu hoa/ Mùa mưa này có thể anh đi xa/ Em hãy ướp vào thư bông hẹn hò chung thủy/ Quý lắm em ơi bông hoa ngày đánh Mỹ/ Hẹn buổi thêu cờ cho hai đứa gặp nhau”.

Bài thơ có mặt trong sổ tay thơ của hầu hết sinh viên Khoa Ngữ văn ngày ấy. Một thời câu “cửa miệng” của sinh viên chúng tôi là: “Quý lắm em ơi bông hoa ngày đánh Mỹ”, với bao ý nghĩa về tình yêu, niềm tin, sự trân trọng, khát vọng chiến công. Bài thơ cắt nghĩa Vũ Đình Văn đang học năm thứ ba, như bao chàng trai sinh viên tài năng của đất nước, khi có giặc, gác bút nghiên, làm đơn nhập ngũ. Di cảo thơ của anh, đến năm 1974, in chung với Hoàng Nhuận Cầm, có tên “Thơ tuổi hai mươi” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân). Năm 2007, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tập hợp, tuyển chọn in thành tập riêng “Nửa sau khoảng đời”. Thơ anh có hai mảng đề tài chính là tình yêu và chiến tranh với đặc trưng giàu cảm xúc, hướng tới vẻ đẹp trong sáng, vị tha, giàu yêu thương và khát vọng cống hiến.

Sau khóa huấn luyện, anh theo đơn vị hành quân vào chiến trường Quảng Trị. Anh làm thơ trên đường hành quân, trong ca gác, giữa hai trận đánh, là tâm trạng của một người lính yêu cuộc sống, yêu đất nước, sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ. Tháng 5-1972, giữa chiến trường bom đạn khốc liệt, anh viết bài thơ “Đêm hành quân qua phà Long Đại”, phản ánh hiện thực chiến tranh, cũng là một tốc ký tâm trạng của người lính: “Đêm ấy đêm trăng/ Chúng tôi hành quân qua phà Long Đại/ Nơi mảnh bom thù dày hơn đá sỏi/ Nơi trao tay mình tiền phương, hậu phương/ Nơi ấy ngã ba chiến trường/ Nơi một tấm ván phà mấy trăm vết đạn/ Nơi ngọn hải đăng trong gió gào vẫn sáng/ Nơi mở đường đưa máu chảy về tim/ Nơi chuyến phà sang ngang trong đêm/ Tôi thấy lửa gọi những ngày sẽ đến/ Thấy những xe hàng nôn nao ra tiền tuyến/ Và thấy những đoàn quân đi xanh dãy Trường Sơn/ Tự nhủ lòng mình hãy tỉnh táo nhiều hơn/ Quyết canh giữ những con đường cho mãi mãi”. Bài thơ mạnh mẽ, rắn rỏi, đầy khí thế, quyết tâm, đọc lên, ai cũng như thấy chiến thắng đang đến, rất gần.

Từ chiến trường Quảng Trị, Vũ Đình Văn gửi bài thơ theo đường quân bưu ra Hà Nội tham dự cuộc thi thơ năm 1972 của Báo Văn nghệ. Một thời gian ngắn sau, đơn vị của anh cũng được điều động ra miền Bắc, biên chế vào một đơn vị bộ đội tên lửa, tham gia Chiến dịch Phòng không Hà Nội-Hải Phòng cuối năm 1972, đóng ở xã Đồng Mai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc phường Yên Nghĩa, TP Hà Nội). Trong một trận đánh máy bay B-52 Mỹ đánh phá Thủ đô, Vũ Đình Văn đã anh dũng hy sinh. Cuộc đời nhà thơ-liệt sĩ dừng lại ở ngày 27-12-1972. Anh ngã xuống nên không thể biết “Đêm hành quân qua phà Long Đại” được giải thưởng. Bài thơ được in trên Báo Văn nghệ. Những dòng chú thích ở cuối tác phẩm: “Tác giả bài thơ sẽ không có mặt trong lễ trao giải thưởng. Anh đã hy sinh trong trận đánh máy bay B-52 của giặc Mỹ bảo vệ bầu trời Hà Nội...”, đã làm bao sinh viên Khoa Ngữ văn nhiều đêm mất ngủ vì xót thương và tự hào vì bạn...

Sự hy sinh ấy tiêu biểu cho lớp thanh niên Việt Nam thời chống Mỹ: Sẵn sàng đi vào nơi tuyến lửa, chấp nhận hy sinh vì độc lập dân tộc. Tiêu biểu cho một thế hệ trí thức trẻ hiến dâng tuổi xuân cho Tổ quốc. Chưa kịp thực hiện những ước mơ khoa học, nhưng họ đã viết nên bản anh hùng ca bằng máu cuộc đời. Trong trái tim người ở lại, những người như Vũ Đình Văn sống mãi. Nhiều người làm thơ về anh. Trong đó có Hoàng Nhuận Cầm, cùng lứa, cùng vào chiến trường, cùng là nhà thơ, phong cách gần nhau: “Thôi cho mình thắp nhang này/ Khóc Văn nước mắt đã đầy quả tim/ Ngàn sao mình đã kiếm tìm/ Nhưng ngàn sao chỉ im lìm như nhau/ Văn ơi, nằm ở nơi đâu/ Người ta lại hát qua cầu gió bay...” (“Nhớ Vũ Đình Văn”).

Thời sinh viên, Vũ Đình Văn có một mối tình đẹp với bạn gái kém một tuổi, cũng là sinh viên. Hai gia đình đã đi lại: “Mười ba bậc cầu thang, sang năm/ Mẹ tính đón em về rồi sửa” (“Mười ba bậc cầu thang”). Đó là bài thơ anh viết về kỷ niệm ngôi nhà gia đình anh: Số 47 Lãn Ông. Lúc bấy giờ mẹ anh mất rồi. Nhưng anh cứ tưởng tượng “còn mẹ” để “Mẹ tính đón em về”... Càng thấy cảm phục tấm lòng của anh đối với mẹ. Càng thấy đau, thấy xót cho một tình yêu, một tài năng, một tâm hồn, vì chiến tranh mà lỡ làng!

Một cuộc đời 22 năm nhưng đã trở thành một bản trường ca đẹp về lý tưởng tận hiến, lòng yêu nước, về vẻ đẹp văn chương và tình yêu...

PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ