Một người lính... muốn viết
Trần Đăng tên thật là Đặng Trần Thi, sinh ngày 11-11-1921 tại làng Đăm, xã Tây Tựu, nay thuộc phường Tây Tựu, TP Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống văn chương. Ông nội đỗ cử nhân nhưng không làm quan, mà làm nghề thuốc chữa bệnh. Nhà nghèo, mẹ mất sớm, nhưng anh em Trần Đăng ai cũng ham học. Ông được người bác ruột nuôi ăn học tại Hà Nội. Thông minh, học giỏi, gia đình khó khăn, vừa học, Trần Đăng vừa đi làm thêm ở thư viện Đại học Đông Dương. Giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh, chàng sinh viên Trần Đăng ham mê văn học, thể thao, thích chụp ảnh...
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Trần Đăng tham gia công tác chính quyền tại Bộ Nội vụ. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (tháng 12-1946), ông gia nhập Quân đội. Có khát vọng văn chương, muốn được đi, được viết về những người đang trực tiếp chiến đấu, ông xin cấp trên đi viết báo.
    |
 |
Nhà văn, liệt sĩ Trần Đăng (1921-1949).
|
Từ tháng 4-1948, Trần Đăng được chuyển về tòa soạn Báo Vệ quốc quân (tiền thân của Báo Quân đội nhân dân), làm phóng viên mặt trận. Nhà văn Từ Bích Hoàng (nguyên Phó tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) kể: “Một ngày cuối xuân năm 1948, mấy phóng viên đang ngồi bên bếp lửa, có một người đến, tự giới thiệu là Trần Đăng và nói: “Trên điều mình về làm báo... Mình muốn viết, mình không muốn làm gì khác”.
Câu nói ngắn gọn ấy gần như có thể xem là một tuyên ngôn nghề nghiệp của nhà báo-chiến sĩ Trần Đăng. Trong hình dung của nhiều người quen biết, Trần Đăng người cao, gầy, da đen sạm, đôi mắt to hay mơ màng, trầm lặng, ít nói, hay suy tư... Ông thường mặc chiếc áo cánh đen, cái áo trấn thủ, quần tây cũ, chân đi dép, hông đeo khẩu súng ngắn, khoác chiếc túi vải đựng quần áo và tài liệu... đi theo các đơn vị chiến đấu, để viết về bộ đội trên nhiều mặt trận.
Dấu ấn riêng, phong cách riêng
Nói Trần Đăng là một phóng viên mặt trận, chưa đủ. Ông sống đời sống của một người lính để thực sự viết như một nhà văn của lính. Theo những hồi ức của đồng đội, Trần Đăng làm bất cứ công việc gì, từ hành quân, đào công sự, vác gạo, kiếm củi đến viết bích báo, làm binh vận, phiên dịch. Đặc biệt là sẵn sàng cầm súng chiến đấu như một chiến sĩ thực thụ. Ông “muốn viết”, nhưng không phải viết từ xa, mà phải đến tận nơi, sống cùng bộ đội, chịu đựng những gian khổ của người lính, để từ đó viết ra những gì được trực tiếp chứng kiến và trải nghiệm. Sinh thời, Trung tướng Nguyễn Hùng Phong, nguyên Phó tư lệnh về Chính trị Quân khu 1, vốn cùng đơn vị với ông, nhớ lại: “Nhà văn ghi trong sổ tay: “Chỉ có cái khách quan và kể lại, hãy khoan một tấm sơn mài, hãy làm việc Croquis (bức vẽ nhanh-tiếng Pháp) cho thật đúng giản dị thành thực và thật”.
Quan niệm ấy được ông thực hiện triệt để trong đời thực và cả trên trang viết. Không chỉ ghi chép hiện thực, ông văn chương hóa hiện thực bằng cái nhìn của lính. Trần Đăng đi nhiều nơi. Mùa xuân 1948, ông cùng bộ đội vào vùng địch hậu Ba Chẽ, Tiên Yên, bị thương ở chân. Trở về căn cứ, gặp một đơn vị hành quân lên biên giới Việt-Trung, ông lại đi theo. Tháng 8 ở Bắc Kạn, tháng 10 đã có mặt ở vùng địch hậu Sơn Tây, Ninh Bình... Không chỉ là cuộc dịch chuyển của một phóng viên đi tìm tư liệu mà là hành trình thâm nhập thực tế của một nhà văn tự làm giàu có vốn sống. Vừa đi, vừa đọc, vừa viết. Không tách rời nhau.
Trong cuốn sổ tay để lại, có nhiều ghi chép về cuộc sống của người dân, của bộ đội. Có cả những chi tiết văn chương từ sách, báo nước ngoài, cả từ báo tường, báo liếp ở các đơn vị địa phương... Độ quan sát cuộc sống của nhà văn có một “phổ” rất rộng rãi, có thể thu nhận nhiều tín hiệu từ hiện thực. Rất có trách nhiệm nghề nghiệp, Trần Đăng tự yêu cầu mình phải tạo ra chất lượng cao của trang viết. Trung tướng Nguyễn Hùng Phong kể thêm, thấy Trần Đăng viết rất khó khăn, viết rồi lại xé, bỏ đi nhiều lần, ông hỏi lý do, nhà văn buồn buồn trả lời: “Vì chất tiểu tư sản nó vẫn bám và xen vào bài viết của mình, cố rũ bỏ nó chưa được”. Có lẽ vì sự rèn giũa ấy, những trang văn của Trần Đăng cứ dần sáng lên chất đời thực, tươi tắn, rắn rỏi, mạnh mẽ.
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, trên Báo Vệ quốc quân số Xuân 1950, trong bài “Những bạn văn trẻ”, viết: “Cái ngòi bút vừa lạnh vừa nồng nàn vừa âm vang tiếng sắt thép mà còn đầm ấm tinh thần người Vệ quốc quân hiên ngang, chăm chỉ, thật bộ đội, rất chính quy, tôi chưa được đọc ai như thế. Đăng tài nhận người, xét đoán việc với cách nhìn thoáng đã chụp thành kiểu, gọn sắc. Đăng làm việc nhiều, sống mãnh liệt. Đăng là một thanh niên cộng sản. Các bút ký của Đăng cũng khỏe như cái chân đi của Đăng”...
Nổi bật bởi phong cách chân thực, giàu chất đời sống, đậm chất lính; lời văn giản dị, giàu sức gợi, sâu sắc tình yêu con người, quê hương, đất nước, văn xuôi Trần Đăng là sự kết hợp giữa chất phóng sự, ký sự và cảm hứng văn chương, tạo nên một tiếng nói trẻ trung, mạnh mẽ, có gì đấy gân guốc, ngang tàng của văn học kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài học lớn Trần Đăng để lại là viết từ trải nghiệm sống, lấy sự thật và trách nhiệm công dân làm nền tảng, luôn đặt ngòi bút trong mối quan hệ với vận mệnh dân tộc. Một số tác phẩm giá trị của ông từng được đưa vào giảng dạy trong chương trình môn Văn bậc phổ thông, là những bài học quý về lòng yêu nước, yêu lý tưởng, cống hiến trọn đời cho Tổ quốc.
Trần Đăng ngã xuống trên chiến trường ở tuổi 28-độ tuổi rực rỡ của tài năng. Trong cuốn sổ tay còn lại, ông có ghi bằng tiếng Anh mấy dòng chữ: “Tháng 11-1949, một ngày sinh mới, 28 tuổi...”. Trên hai số báo 59, 60, Báo Vệ quốc quân dành hai cột báo đưa tin về sự hy sinh của hai phóng viên xuất sắc: Nhà thơ Hoàng Lộc hy sinh (do sốt rét ác tính) ngày 29-11-1949; nhà văn Trần Đăng “hy sinh trong một trường hợp đặc biệt” ngày 26-12-1949.
Lần ấy, trong một chuyến đi, nhà văn cùng tổ công tác rơi vào ổ phục kích của địch. Đồng chí Trần Đăng và Bùi Thịnh, Chính trị viên tiểu đoàn, anh dũng hy sinh. Lễ truy điệu và an táng các đồng chí được du kích và đồng bào tổ chức vào chiều 27-12-1949 ở bản Nà Lầu, nay thuộc xã Hoàng Văn Thụ, tỉnh Lạng Sơn. Đồng chí, đồng bào dùng viên gạch vồ (gạch cỡ to) khắc tên liệt sĩ bằng lưỡi lê, dựng thành bia đánh dấu phần mộ, đặt trên sườn núi Kéo Lệnh, đối diện phía bên kia là núi Pa Đóm. Một viên gạch thô sơ thay bia đá. Một nét chữ khắc bằng lưỡi lê thay cho lời tiễn biệt.
Sự giản dị ấy trở thành “bia tưởng niệm” đặc biệt của nghĩa đồng bào, tình đồng chí trong những ngày kháng chiến buổi đầu. Tháng 2-1991, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung tướng Nguyễn Hùng Phong, đồng đội đã tìm thấy phần mộ hai liệt sĩ. Tháng 11-1991, hài cốt liệt sĩ Trần Đăng được đưa về với quê hương. “Người văn nghệ binh thứ nhất hy sinh nơi chiến trường” được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Nhổn (nay thuộc phường Tây Tựu, TP Hà Nội).
Đại tá, PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ