Oái oăm, độ một tháng sau, khoa này giải thể vì chưa hội đủ điều kiện. Viêng được chuyển sang học Khoa Kinh tế chính trị, khóa 1975-1980. Lớp 2B của anh, màu áo lính (ở chiến trường ra) nhuộm xanh cả phòng học, xúc động ngập tràn trên nét mặt các thầy cô…

Chàng học sinh giỏi Văn và những kỷ niệm chiến trường

Ngày 25-6-1968, Vũ Minh Viêng (quê ở Vũ Vân, Vũ Thư, Thái Bình) nhập ngũ với “hành trang tinh thần” gồm: Giấy báo đỗ tốt nghiệp lớp 10 Trường Phổ thông cấp 3 Vũ Tiên, loại xuất sắc; Giấy chứng nhận đoạt giải cao thi học sinh giỏi Văn lớp 10 toàn miền Bắc với bài nghị luận: “Nguyễn Du vừa viết tiểu thuyết, vừa làm thơ trữ tình” (chứng minh bằng những hiểu biết qua Truyện Kiều). Cùng với đó là tuổi 18 cháy bỏng khát vọng đi trong đoàn quân cứu nước, được hun đúc từ những bài giảng Văn của các thầy cô dưới mái trường quê hương, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong sản xuất và chiến đấu.

Sáu tháng sau, khi về phép để đi B, Viêng được bố đưa cho tờ điện báo Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp chọn anh đi học ở nước ngoài. Và tờ điện báo ấy được Viêng mang theo lên tàu hỏa ở Bắc Giang đêm 22-12-1968, để rồi sau 3 tháng ròng đi bộ nữa, vào tới Quảng Nam…

leftcenterrightdel
Cựu giáo chức Vũ Minh Viêng (bên phải) trong lần trở lại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng cuối năm 2018-nơi ông cùng một số sinh viên Khoa Kinh tế chính trị, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đi thâm nhập thực tế, tháng 12-1978.

Tại đất Quảng đi đầu diệt Mỹ xâm lược, Viêng làm liên lạc cho Đại úy Nguyễn Hữu Xưng, Chính trị viên Tiểu đoàn 69, Mặt trận 44 Quảng Đà. Đơn vị đứng chân ở Hòn Tàu, chuyên thu dung các chiến sĩ ốm đau sau hồi phục sức khỏe trở lại đơn vị chiến đấu. Một năm trôi qua, Viêng chứng kiến biết bao câu chuyện ở chiến trường. Trong đó có thảm cảnh khu vực Tiểu đoàn bộ bị bom B-52 của Mỹ. Đồng chí tiểu đoàn trưởng và chiến sĩ liên lạc hy sinh trong hầm, không định dạng được thi hài. Hôm ấy, chính trị viên tiểu đoàn đi họp ở Bộ tư lệnh Mặt trận, kéo Viêng đi cùng. Trở về, đứng trước nỗi đau ấy, hai anh em không cầm được nước mắt...

Một buổi sáng cuối thu năm 1973, anh cùng Tiểu đoàn trưởng Hoàng Đức Quỷnh (người Hải Phòng) và một số cán bộ tiểu đoàn đi nghiên cứu xây dựng các điểm chốt và phương án tác chiến ở vùng “da báo” giáp ranh giữa ta và địch trong núi rừng Hương Thủy. Bỗng một quả đạn pháo từ phía địch bay tới, nổ gần chỗ Viêng đứng làm anh ngã sõng soài. Thấy bàn tay phải tê tê (mất cảm giác đau), Viêng đưa nó ra trước mặt, ngỡ ngàng khi thấy chỉ còn độc ngón cái. Các ngón kia nát bét, nhầy nhụa máu…

Ngay đêm hôm ấy, trên chiếc sạp nứa ở trạm phẫu tiền phương (Quân khu Trị Thiên), khi thuốc tê đã ngấm, Viêng từ từ cảm nhận việc bác sĩ tháo khớp gốc của từng ngón tay đang trong quá trình hoại tử.

Thấy Viêng bặm môi, trào nước mắt, bác sĩ liền dừng tay dao, hỏi:

- Anh Viêng thấy đau à? Không lẽ độ tê chưa đủ?

- À không! Tôi không thấy đau! Bác sĩ làm tốt lắm!

- Vậy sao anh khóc?

- Là vì bàn tay phải chỉ còn duy nhất ngón cái. Tức là tôi sẽ không thể cầm bút được nữa! Ước gì còn lấy một đốt ngón trỏ! Chỉ cần thế thôi là tôi sẽ lại cầm được bút để viết ra những cảm xúc của mình, hoặc cầm được viên phấn để dạy các em nhỏ tập làm những bài văn…

Đến lượt bác sĩ xúc động:

- Tôi đang làm mọi cách để giữ tối đa phần đốt ngón trỏ còn lại! Đúng như anh nghĩ, đốt trỏ ấy sẽ rất có ích cho anh. Anh sẽ lại viết thư, viết văn…

Viêng mừng rỡ nhìn bác sĩ...

Cuối năm 1974, trong hành trang ra Bắc của Vũ Minh Viêng có những mảnh đạn pháo li ti đang ẩn đây đó trong cơ thể! Tại Đoàn An dưỡng 253 (Quân khu Tả Ngạn) ở Nam Sách, Hải Dương, sau khi khám thương cho Viêng xong, bác sĩ hỏi:

- Trường hợp của anh xếp hạng thương binh 35% nhé?

- Vâng! Càng ít phần trăm càng tốt!

Ấy là anh muốn sau này còn có cơ sở pháp lý về sức khỏe để đi học tiếp.

Sinh viên đại học tập... cầm bút

Cuối năm 1974, từ Đoàn An dưỡng 253, Viêng mang giấy báo đi học nước ngoài trình Vụ Tuyển sinh của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Cuốn sổ ghi tên những người đi học nước ngoài năm 1968 được mở ra, chỉ còn mỗi cái tên Vũ Minh Viêng là chưa đánh dấu “đã thực hiện”. Ông cán bộ Vụ Tuyển sinh tựa hồ gặp được bạn quý, nói như reo: “Anh Viêng thuộc diện đi học Liên Xô, danh giá nhất lúc đó! Chúng tôi đợi anh đến phút chót mới “khóa sổ”. Nhưng tôi vẫn mong ngóng anh! Giờ thì cơ hội ấy đã qua mất 6 năm rồi. Thôi thì ở trong nước, anh thích học trường nào, chúng tôi sẽ bố trí!”.

Viêng chìa bàn tay phải ra trước mặt người cán bộ tuyển sinh, nói: “Học ngành phải thực hành thì không được vì tôi không còn đủ ngón tay. Chi bằng, các anh cho tôi vào học ngành Văn, vì tôi là học sinh giỏi Văn của miền Bắc, có giấy chứng nhận”…

Tháng 9-1975, thương binh Vũ Minh Viêng nhập học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông cán bộ tiếp nhận hồ hởi vỗ vai anh, nói: “Đồng chí là đảng viên, lại học giỏi Văn nên được chọn vào Khoa Triết mới được thành lập để đào tạo cán bộ cốt cán cho ngành Triết học của trường!”. Oái oăm, độ một tháng sau, khoa này giải thể vì chưa hội đủ điều kiện. Viêng được chuyển sang học Khoa Kinh tế chính trị, khóa 1975-1980. Lớp 2B của anh, màu áo lính (ở chiến trường ra) nhuộm xanh cả phòng học, xúc động ngập tràn trên nét mặt các thầy cô… 

Buổi học đầu tiên của Viêng ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội cũng là bắt đầu tập viết. Nghĩ rằng mình có thể tập viết bằng tay trái, song, anh quyết tâm viết bằng bàn tay phải tàn tật. Câu nói của người bác sĩ: “Làm mọi cách để giữ tối đa phần đốt ngón trỏ còn lại!... Đốt trỏ ấy sẽ rất có ích cho anh” vẫn văng vẳng trong anh cùng với một nỗi niềm khôn tả. Mặt khác, anh cũng nghĩ đến những trường hợp cần thiết phải sử dụng cả hai bàn tay cùng một lúc, chẳng hạn như vừa viết bài vừa xoa lưng cho con ngủ thì anh không muốn cái lưng non của con anh phải cảm nhận một bàn tay thương tật…

Từ tập cầm bút, rồi cầm phấn, Viêng cố gắng để đạt được như vốn có “văn hay chữ tốt”. Khi lên bảng làm bài tập hồi sinh viên, cũng như về sau, lúc đứng trên bục giảng, bàn tay thương tật của anh đưa những nét viết rất tự tin trong sự trầm trồ thán phục của học sinh và đồng nghiệp.

Hơn 30 năm đứng trên bục giảng, có 4 năm làm Phó chủ nhiệm Khoa Kinh tế chính trị (1988-1992), cho đến khi Khoa Kinh tế chính trị trở thành Trường Đại học Kinh tế, thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội, nhà giáo thương binh Vũ Minh Viêng luôn tận tụy với sự nghiệp đào tạo cán bộ kinh tế cho đất nước, đồng thời góp phần xây dựng nhà trường xứng danh là trung tâm nghiên cứu các chính sách kinh tế và quản lý cho Chính phủ cũng như các doanh nghiệp lớn tại Việt Nam. Năm 2011, nhà giáo Vũ Minh Viêng về hưu ở tuổi 61.

Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG