Câu chuyện của ông Nhâm Xuân Coóng liên quan đến một đề tài nghiên cứu “tối mật” ngày đó của Phòng Điện tử. Từ đầu năm 1967, giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt miền Bắc. Sau rất nhiều trận không kích mà cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững, bom Mỹ thả chệch ra ngoài mục tiêu. Mỹ sử dụng chiến thuật mới, thả một loại thủy lôi trôi trên mặt nước, đến gần trụ cầu thì nổ. Trên bộ, Mỹ cũng sử dụng một loại bom mà chúng gọi là “Kẻ hủy diệt” (Destructor). Bom nặng 500-700 cân Anh, được cải tiến lắp dù ở đuôi và cơ cấu điều khiển nổ bằng điện tử, thực hiện chức năng vừa là bom vừa là “bẫy”, nổ khi mục tiêu đến gần nhất, đồng thời còn là bom nổ chậm, tự hủy sau một thời gian.

leftcenterrightdel
Nhâm Xuân Coóng (áo trắng) trong phòng thí nghiệm của Phòng Nghiên cứu điện tử nghiên cứu phá bom từ trường. Ảnh do nhân vật cung cấp. 

Ngày đó ta chưa biết nhiều về “Kẻ hủy diệt”, nên đặt tên nghiên cứu là “bom TN”. Một nhóm cán bộ khoa học kỹ thuật của Phòng Điện tử, thuộc Cục Nghiên cứu kỹ thuật (tiền thân của Viện KTQS) được giao nhiệm vụ vô hiệu hóa bom TN. Hầu hết các anh đều rất trẻ, mới ra trường. Chàng trai cao gầy, trắng trẻo Trịnh Đông A học về vật lý vô tuyến, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội là một trong số đó. Do học giỏi, anh được giữ lại trường, nhưng anh tình nguyện “biệt phái” sang quân đội. Anh đã tìm ra trong quả thủy lôi loại ngòi nổ siêu cao tần hoạt động theo “hiệu ứng Đốp-ple”. Còn với bom TN, từ một đầu gây nổ MK-42 do công binh đưa đến, anh nắm được nguyên lý “nhạy cảm từ trường”, đã cùng nhóm nghiên cứu thiết kế một cơ cấu khung dây “lồng Pha-ra-đây” để rà phá bom, gọi là khung PK. Nơi thí điểm được chọn là cánh đồng còn nhiều bom chưa nổ ở xã Thổ Khối, huyện Gia Lâm (TP Hà Nội). Ngày 10-10-1967, nhóm thực nghiệm gồm kỹ sư Nguyễn Hữu Sưởng và hai nhân viên kỹ thuật: Nhâm Xuân Coóng, Vũ Văn Huyên.

Ngày đó, Nhâm Xuân Coóng mới 18 tuổi, quê Thái Bình, vừa chân ướt chân ráo về Phòng Điện tử, liền xung phong đi thực nghiệm phá bom. Anh chưa có bằng cấp chuyên môn, chỉ có những kiến thức ban đầu về loại bom từ trường mới do anh em trong nhóm truyền đạt, cộng với nhiệt tình và bầu máu nóng cống hiến của tuổi thanh xuân. Lần đầu thực hành với PK, các chiến sĩ công binh của Đội 93 đã thao tác rất tốt theo chỉ dẫn của nhóm thực nghiệm, phá thành công 3 quả bom, bằng cách kéo một bảng gỗ gắn 24 viên nam châm phe-rít và một tấm thép qua vị trí có bom TN chưa nổ. Song hiệu suất phá bom theo cách này còn thấp, cấp trên yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp tục cải tiến.

Sau khi được cải tiến, mấy tháng sau, nhóm của Cục Nghiên cứu kỹ thuật vào Quân khu 4, thực nghiệm tại bãi bom xã Nam Thái, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nhâm Xuân Coóng và Vũ Văn Huyên cởi trần, đi chân đất, mặc độc chiếc quần đùi vào giữa bãi bom, dù biết rằng bom có thể nổ bất cứ lúc nào. Hai anh bình tĩnh rải dây điện đồng ra xung quanh hai quả bom và kéo dây về hầm điểm hỏa ở khoảng cách 20m. Khi mọi người đã về nơi ẩn nấp an toàn, Coóng tay cầm hai đầu dây điện kích vào khối pin Con Thỏ. Đã nửa thế kỷ trôi qua, đến giờ, ông Nhâm Xuân Coóng vẫn chưa quên cảm giác lúc ấy: Khi bắt đầu chập dây điện vào điện cực của pin vẫn thấy bình thường, nhưng khi thả tay ra thì xung quanh mặt đất rùng rùng rung chuyển, bom phát nổ vào lúc ngắt mạch điện đúng như đã thí nghiệm ở nhà! Chiều hôm ấy, các anh đã phá thành công 6 quả bom TN. Sau đó, Sưởng và Huyên trở về đơn vị, Coóng ở lại Tiểu đoàn 24 công binh để huấn luyện cho công binh và thanh niên xung phong. Anh còn trực tiếp đi phá bom ở Truông Bồn, Rú Nguộc, Đường 30, bến phà Cấm, hai đầu cầu Bùng Đường số 1…

Địch tăng cường thả bom TN trên tuyến đường vận tải quân sự Trường Sơn, đã gây nhiều thiệt hại về người và của cho bộ đội ta. Tư lệnh Đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên điện khẩn ra Cục Nghiên cứu kỹ thuật yêu cầu giúp đỡ. Một đoàn 4 người được cử đi chiến trường, trong đó có kỹ thuật viên Nhâm Xuân Coóng. Nhóm đã tổ chức huấn luyện và trực tiếp cùng công binh Trường Sơn thực hành phá bom trên nhiều tuyến vận tải. Ở trọng điểm Vang Khoai, có lần các anh điểm hỏa nổ một lần 13 quả TN, ở tuyến của Binh trạm 33 phá đến 50 quả, tháo được 3 đầu nổ.

Trong mùa vận chuyển 1968-1969 trên đường Trường Sơn, riêng việc dùng PK các đơn vị trên tuyến đã phá được khoảng 4.000 quả bom TN. Cũng cần nói thêm là, thời gian này, bên cạnh việc phá bom bằng khung dây từ, ta còn chế tạo máy phóng từ đặt trên xe U-oát, xe bọc thép rà phá bom TN cũng rất hiệu quả, độ an toàn cao.

Trên đường Trường Sơn ngày ấy, nhóm nghiên cứu đã lập được một chiến công

xuất sắc, trong một tình huống thật đặc biệt. Chuyện xảy ra ở một kho lớn, toàn chứa đạn pháo phản lực (ĐKB). Đây là loại vũ khí mới do Liên Xô viện trợ, có uy lực công phá lô cốt, hầm ngầm kiên cố, ống phóng và quả đạn thì khá to, nặng (quả đạn dài 1,5m; đường kính 122mm). Phải mất rất nhiều mồ hôi công sức, có cả xương máu bộ đội vận tải mới đưa được 1.000 quả đạn ĐKB vào tập trung ở một kho đặt giữa khu rừng le trong một thung lũng núi đá. Đạn được xếp trong các hầm đào cách nhau 20m, mỗi hầm chứa 100 quả. Bất ngờ, một “Kẻ hủy diệt” địch thả hú họa lại cắm sát sạt một hầm. Nếu bom phát nổ thì sẽ kích nổ các quả đạn, cả kho phút chốc sẽ tan tành. Nhóm nghiên cứu thống nhất với anh em trong kho kế hoạch vô hiệu hóa quả bom là dùng một khung dây đồng vuông 3 lớp và máy KC-70 chạy bằng ác-quy ô tô. Hầm khống chế đặt cách quả bom khoảng 25m. Khi máy khống chế phát sóng đạt tới mức bom liệt, thì hai người sẽ chạy nhanh vào hầm, vác quả đạn ĐKB đầu tiên ra đặt ở vị trí an toàn 30m, sau đó mọi người mới cùng chạy vào một lúc, vác hết số đạn ra. Cách này, nếu xảy ra khả năng xấu nhất là không khống chế được bom, thì chỉ hai người vào đầu hy sinh. Nhâm Xuân Coóng và Đại đội trưởng kho tình nguyện đi trước. Thật may mắn, mọi việc diễn ra suôn sẻ, trong vòng 15 phút sơ tán hết số đạn. Sau đó các anh mới cho nổ quả bom “oái oăm” đó. Khi cát bụi còn mù mịt, tất cả mọi người nhảy lên mặt đất ôm chầm lấy nhau, chúc mừng cho một chiến công.

Đúng vào dịp Tết Kỷ Dậu-1969, lần đầu tiên Nhâm Xuân Coóng và anh em trong nhóm nghiên cứu kỹ thuật được ăn cái Tết ấm cúng với công binh Trường Sơn. Đêm Giao thừa, giữa thung lũng rừng le, mọi người vây quanh cái đài bán dẫn bé xíu xúc động nghe lời chúc Tết của Bác Hồ, tiếng Người ấm áp: Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc-Nam sum họp, Xuân nào vui hơn. Sáng Mồng Một, cỗ Tết bày ra, không mứt, dưa hành, bánh chưng xanh, chỉ có rau môn thục, rau dớn tươi ngắt ở suối nấu cùng măng khô, thịt hộp mà anh em đều cười nói “vui như Tết”. Có thêm niềm vui trong dịp Tết năm ấy: Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên ký tặng bằng khen về hành động dũng cảm trong phá bom TN cho kỹ thuật viên Nhâm Xuân Coóng.

Nhóm đi Trường Sơn trở về Hà Nội. Người ở nhà vẫn hồi hộp ngóng tin họ từng ngày và thở phào khi anh em đều “lành lặn”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Vừa gặp, Trịnh Đông A liền ôm lấy Nhâm Xuân Coóng, xúc động nói rằng: Anh đã có hành động anh hùng. Biết đâu lúc ấy thời gian tự hủy của bom vừa đến, mà máy KC-70 vốn không có khả năng khống chế được mạch tự hủy, thì các anh đã thành liệt sĩ rồi!

PHẠM QUANG ĐẨU