Quân Mỹ sau khi bị đánh phủ đầu đã phục hồi, tổ chức phản kích dữ dội. Ban chỉ huy đại đội quyết định rời khỏi trận địa trước khi trời sáng. Đang bàn tính thì xe tăng và bộ binh Mỹ từ phía đồn lao ra phản kích, bịt đường rút của đơn vị.

leftcenterrightdel
Ông Nguyễn Hữu Tứ - tác giả bài viết, hiện nay ở phường Đức Long, TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (ảnh chụp tại cầu Cần Thơ năm 2014). Ảnh: HUY SÔ  

Trời rạng sáng, cùng với hàng chục trái đèn dù soi rõ mặt đất, tiếng xì xào của bộ binh Mỹ sát gần. Tình huống vô cùng khẩn cấp. Tranh thủ khói mù, một số anh em chuyển tử sĩ, thương binh nặng được lệnh rút lui. Tôi và các anh chỉ huy cũng chuẩn bị rời khỏi trận địa thì bất ngờ một chiến sĩ bị thương lê từng bước khó nhọc, tay trái chống khẩu Carbine làm gậy, vai phải đeo khẩu AK dẫn đến chỗ tôi một tù binh quân đội Sài Gòn, đầu tóc cháy sém, mặt nám khói đen, bộ đồ rằn ri rách tướp. Anh báo cáo với tôi: “Thằng này ngoan cố lắm, tổ em đánh đến quả thủ pháo thứ tư bốn lạng mới chịu chui trong hầm ra hàng”. Nhìn thấy tù binh ai cũng nghĩ tới chuyện rắc rối, vướng víu. Có người bảo nhỏ tôi: “Bắn quách cho rồi, còn dẫn đến đây”. Nỗi căm thù trong lòng tôi cũng sôi lên, chính bọn này đã gây tổn thất cho đơn vị, bạn thân và anh bạn đồng hương của tôi cũng vừa hy sinh. Anh em nhìn nhau chờ ý kiến xử lý của tôi. Đấu tranh tư tưởng “bắn hay bắt” trong tôi gay gắt. Trong tình huống nước sôi lửa bỏng này, tính mạng của đồng đội và phiên hiệu của đơn vị tính từng giây. Tiếng súng Mỹ sát gần. Trong lúc này, tôi có thể ra lệnh “thủ tiêu” anh ta để nhanh chóng lui quân nhằm bảo toàn lực lượng còn lại và thương binh, tử sĩ. Việc đưa anh ta ra lúc này tuy hết sức khó khăn, nhưng thể hiện tấm lòng nhân đạo và cũng là nghiêm chỉnh chấp hành chính sách khoan hồng đối với tù, hàng binh của Quân đội ta. Tôi nhanh chóng “sơ cung” vì sao anh ta không đầu hàng sớm. Anh ta nói: “Ngồi chung hầm với thằng đại đội trưởng, nó gí súng lục không cho em hàng. Đến khi Quân giải phóng đánh trái nổ lớn, nó chết em mới ra hàng được. Súng em chưa bắn viên nào cả, các anh tha chết cho em và cho em ra vùng giải phóng...”. Anh ta khai tên Hồ Văn Giạn, ở thôn Gia Đệ, huyện Triệu Phong. Sau khi hội ý nhanh, tôi quyết định và nhận trách nhiệm đưa anh ta ra căn cứ. Tôi cũng đã lường đến việc bất trắc, nguy hiểm vì anh ta lành lặn, còn tôi thì bị hai vết thương. Nhưng tôi tin thái độ bao dung, nhân đạo sẽ khuất phục được Giạn và quyết đưa anh ta ra vùng giải phóng an toàn. Bộ đội bắt đầu rút, tôi đưa Giạn vác khẩu Carbine của chính anh ta mang ra đầu hàng, còn tôi mang khẩu AK, tay trái bị thương treo dây băng ở cổ, chân trái bị thương đi khập khiễng, lợi dụng khói mù, vượt qua 9 lớp rào kẽm gai ra khỏi căn cứ Cồn Tiên dưới làn hỏa lực địch. Trên đầu, máy bay “bà già” quần lượn sát ngọn cây, pháo địch bắn chặn, đạn bộ binh đuổi sau lưng…

Về đến An Nha, xã Gio An (Gio Linh), tôi bàn giao Giạn cho Trung đoàn 812 và nói rõ thái độ anh ta từ lúc bị bắt và trên đường dẫn ra căn cứ. Tôi gặp gỡ anh em trong đại đội, hỏi thăm ai còn, ai mất, động viên người ở lại xây dựng đơn vị, rồi mới lên võng cáng thương chuyển ra trạm phẫu Hói Cụ bên bờ nam sông Bến Hải.

35 năm sau, tháng 9-2002, tôi nhờ người quen ở thôn Gia Độ, Triệu Phong hỏi xem có ai biết Hồ Văn Giạn, người tù binh bị bắt ở Cồn Tiên ngày 7-5-1967. Hơn một tháng sau, bất ngờ tôi nhận được thư của chính người tù binh đó. Trong thư Giạn viết: “… Từ ngày anh dẫn em ra giao cho Quân giải phóng, em được chuyển lên miền tây Vĩnh Linh học tập chính sách, mấy tháng sau được phóng thích. Nhớ ơn cách mạng, em đã tình nguyện đi bộ đội đánh Mỹ. Biết em là tù binh đã học tập cải tạo nên cấp trên biên chế vào tiểu ban binh vận của Trung đoàn Gio Cam và Ban Binh vận Mặt trận B5-Bắc Quảng Trị. Thống nhất nước nhà, em chuyển sang ngành thương nghiệp và đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến nay, em đã 22 năm tuổi Đảng. Con gái của em cũng là đảng viên, làm việc tại UBND xã Triệu Độ. Cuộc sống gia đình em hôm nay rất hạnh phúc. Nhờ ơn cách mạng đã đổi đời em…”.

NGUYỄN HỮU TỨ