Nhìn ra cửa “hàm ếch” thấy toang hoác, cảm giác không an toàn. Bọn F-4 vẫn lượn vòng cắt bom. Đất đá rơi rào rào. Tôi đảo mắt tìm xem có chỗ nào an toàn không thì chỉ thấy một đường hầm ngầm đào sâu vào ta luy dương, miệng hầm toang hoác ngay mặt đường, nhìn thấy cả bờ vực thẳm phía ta luy âm. Những căn hầm như thế này lính ta gọi là “hàm ếch”. Khói đen dần tan, tôi đã phần nào quen với ánh sáng trong hầm, nhìn rõ những hàng chữ ai đó viết lên vách đất. Thì ra trước tôi cũng đã có người trú ẩn trong căn hầm này và chắc là tâm trạng cũng như tôi. Hai chữ “bình tĩnh” viết dày đặc đã minh chứng điều đó. Tôi như được tiếp thêm sức lực và tự nhủ: “Bình tĩnh”. Đang miên man với những luồng suy nghĩ không đầu không cuối, chợt có tiếng gọi:

- Anh gì ơi! -Tôi lắng nghe-Anh gì ơi!-Lại có tiếng gọi tiếp. Tôi men ra cửa hầm...

- Anh qua bên này cho chắc ăn.

Tôi đã nhìn thấy anh. Một chiến sĩ. Anh nhô hẳn người lên khỏi miệng hầm, một tay cầm khẩu CKC, một tay cầm cành cây che trên đầu ở phía bên kia đường. Tôi nhanh chóng vọt tiến qua chỗ anh. Anh nhoẻn nụ cười thân thiện.

- Vừa thấy anh đi lên, chưa kịp gọi, bọn nó đã tới bắn phá.

Nghe anh nói mà tôi cảm nhận như chưa có chuyện gì vừa xảy ra nơi đây. Tự tin và thân thiện toát ra từ thần thái của anh-người lính công binh gác trọng điểm này.

- Anh ở đơn vị nào mà lên trọng điểm vào giờ này?-Anh hỏi tôi.

- Mình dân pháo binh, kéo pháo vào B1. Nghe nói đoạn đèo này có nhiều “cua” gấp, nên muốn lên coi để tối kéo pháo qua.

- “Cua tay áo” mà anh. Nhưng không sao, xe pháo đi được, các anh ở Tiểu đoàn 28 vẫn kéo pháo 37mm qua mà…

leftcenterrightdel
CCB Vũ Ngọc Tùng (bên trái) trong ngày gặp mặt đồng đội. Ảnh: KIM TRUNG

Chiếc OV-10 đã nâng độ cao, săm soi vào phía trong. Trọng điểm “Cua tay áo” Đường B46 phơi ra trong ánh nắng chiều. Con đường vắt ngang qua sườn núi bị đánh phá tơi tả. Bom đạn Mỹ cày xới chỉ còn đất và đá. Ta luy dương sụp đổ, mặt đường biến dạng, uốn lượn, lồi lõm… Tôi cùng Vũ Ngọc Tùng-tên của chiến sĩ công binh gác trọng điểm-đi lên phía trước. Thì ra, tôi và Tùng cùng quê Phú Thọ. Anh ở huyện Thanh Ba, tôi huyện Tam Nông. Tiểu đội công binh của Tùng được giao chốt giữ bảo đảm giao thông trọng điểm này. Địch đánh phá ác liệt nên cả tiểu đội phải bám đường ngày đêm, theo dõi chặt chẽ đánh phá của địch và xử lý ngay sau khi địch đánh phá gây tắc đường và rà phá bom mìn chưa nổ, nhanh chóng thông đường, hướng dẫn xe vượt trọng điểm. Chiếc OV-10 bay vòng lại. Tùng kéo tôi dạt ra hướng ta luy âm. Rất may ở đó lại có một hầm chữ A kiên cố. Tùng bảo:

- Anh chú ý quan sát phía ta luy âm. Bọn em đào rất nhiều hầm chữ A kiên cố, miệng hầm được cắm cọc, buộc dù trắng để ban ngày cũng như ban đêm đều dễ nhận biết như thế này. 

Chiếc OV-10 lại chúi mũi nhả đạn khói cho lũ phản lực cắt bom xuống trọng điểm. Tôi và Tùng vừa xuống hầm chữ A, cũng là lúc chớp nhằng trên đầu, nghe rõ tiếng bom rơi rồi những tiếng nổ chát chúa, rung chuyển cả căn hầm.

- Nó thả cả bom bi đấy anh, có thể cả bom hỗn hợp nữa.

Tôi hiểu điều Tùng nói. Hơn một tháng kéo pháo vào Nam, trên đường Trường Sơn tôi đã hiểu thủ đoạn đánh phá của địch. Mới đầu, chúng thả bom phá nhằm gây tắc đường, rồi bom bi nhằm sát thương bộ đội ta và sau cùng là bom từ trường, bom nổ chậm, bom vướng nổ, mìn lá, mìn tai hồng nhằm gây tắc đường lâu dài và gây thương vong cho ta. Chúng tôi ngày nghỉ, đêm đi. Xe pháo rú ga ầm ĩ. Tiếng hô, tiếng đẩy, kéo rầm trời dưới ánh sáng đèn dù sáng như ban ngày và ngay dưới vòng lượn của bọn AC130 mà có đêm đội hình tiểu đoàn chỉ nhích được mấy trăm mét. Nhớ hôm vượt đèo ngã ba Lùm Bùm, xe băng qua hết số, hết ga, lửa cháy rần rật hai bên. Trên trời, máy bay Mỹ gầm rú và sáng bừng lên những quầng lửa của đạn cao xạ ta bắn trả. Bom vẫn rơi, đạn vẫn nổ. Nhưng mọi việc đều tốt đẹp, hàng chục xe kéo pháo qua trọng điểm an toàn. Chúng tôi đã quen với “tuyến lửa” Trường Sơn-nơi có hàng vạn con người dũng cảm ngày đêm đem sức trẻ phục vụ cho những chuyến xe chở hàng ra tiền tuyến…

Tiếng máy bay đã tắt hẳn. Mặt trời cũng đã gác núi. Tùng và tôi đi lên phía trước. Nhiệm vụ của Tùng là thăm dò đường sá sau những đợt đánh phá của địch và cùng đồng đội san lấp hố bom, thông đường, bảo đảm an toàn cho người và xe qua trọng điểm. Tùng nhắc tôi chú ý quan sát, phát hiện bất thường. Anh giảng giải:

- Nguy hiểm nhất là những loạt bom đạn sau cùng. Bọn chúng thường quăng xuống các loại bom vướng nổ, mìn lá, mìn tai hồng, bom từ trường, bom nổ chậm. Bom vướng nổ từ bom mẹ được thả xuống, chạm đất bung những sợi dây kim loại không màu ra các hướng. Chỉ cần vướng vào dây kim loại này một lực nhỏ cũng làm cho nó nổ. Sức công phá của nó không kém gì một trái lựu đạn M26 của Mỹ. Còn mìn lá, mìn tai hồng rơi xuống hòa vào đất đá, cây cỏ rất khó phát hiện. Bánh xe đi phải nổ lốp; người giẫm phải là mất chân… Bọn em phải xử lý những loại này như cơm bữa và vô cùng mệt mỏi.

Tùng nhận xét:

- Hôm nay, bọn chúng đánh phá có phần giảm so với mọi hôm. Chúng chỉ cắt bom phá đường và rải bom bi.

Tôi tin vào nhận xét của Tùng. Cuộc chiến sinh tử bảo đảm giao thông của các chiến sĩ công binh Trường Sơn đã được đúc kết bằng chính xương máu của người lính.

Đêm ấy, chúng tôi vượt đèo-vượt qua biên giới Việt-Lào về đất Quảng Nam trung dũng-kiên cường-đi đầu diệt Mỹ. Phía trước là mặt trận đang vào giai đoạn hai của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và còn nhiều trọng điểm nữa chúng tôi phải vượt qua. Còn cần lắm những chiến sĩ công binh Trường Sơn dũng cảm, kiên cường trợ giúp…

Tháng 8-1970, tôi vào Bệnh viện 46, Binh trạm 44 điều trị và gặp lại Tùng ở đây, anh là nhân viên Ban Hậu cần của bệnh viện. Bác sĩ điều trị cho tôi là Đào Văn Lượng-người bạn cùng quê, cùng học từ lớp 5 đến lớp 10. Qua Lượng, tôi hiểu thêm về Tùng. Tùng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Nhập ngũ, anh vào Trường Sơn, được biên chế vào Ban Hậu cần, Bệnh viện 46 thuộc Binh trạm 44. Lần gặp Tùng ở trọng điểm “Cua tay áo” là thời điểm anh cùng một số đồng chí được điều động đi tăng cường cho Tiểu đoàn 21 Công binh bảo đảm giao thông. Anh không phải chiến sĩ công binh thực thụ. Tôi càng thêm cảm phục những người lính Trường Sơn. Họ sẵn sàng làm tốt mọi việc để đưa hàng ra tiền tuyến.

Hết chiến tranh, Tùng về lại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, làm công tác giảng dạy, đào tạo giáo viên cho đất nước cho tới ngày nghỉ hưu thì về quê Ninh Dân, Thanh Ba, Phú Thọ vui vầy bên vợ con. Hằng năm, chúng tôi vẫn gặp nhau ở Hội Trường Sơn Sư đoàn 471 anh hùng và gặp mặt truyền thống Bệnh viện 46.

NGUYỄN KIM CHÚC