Đầu năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết, Vũ Chí Sinh lúc này là chiến sĩ thông tin liên lạc thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 21, Quân khu Trị Thiên. Thời điểm đó, Tiểu đoàn 21 được giao nhiệm vụ chốt giữ trên địa bàn hai thôn Tích Tường và Như Lệ, xã Hải Lệ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Phía bên kia là đơn vị lính dù của quân đội Sài Gòn. 

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Vũ Chí Sinh kể cho các con nghe về những ngày chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị.

Một buổi sáng trung tuần tháng 3-1973, khi vừa chợp mắt sau một đêm thức trắng, Vũ Chí Sinh được đồng đội đánh thức. Theo phản xạ, anh vội vàng lấy khẩu AK-47 và chạy ngay ra vị trí chiến đấu. Vừa tới nơi, Vũ Chí Sinh thấy đồng chí Nguyễn Minh Châu, Trung đội phó thuộc Đại đội 3, đang bước lên khỏi giao thông hào. Ông Sinh kể: Lúc ấy khoảng 8 giờ, đồng chí Châu đứng dưới hào gọi sang phía bên kia: “Hòa bình rồi, không đánh nhau nữa, chúng ta cùng lên nói chuyện”. Thấy bên kia không trả lời, đồng chí Châu bèn để lại vũ khí trang bị và nhảy lên khỏi hào, từ từ tiến về phía ranh giới giữa hai bên. Lúc này, ở phía sau, anh em trong đơn vị đã vào vị trí sẵn sàng chiến đấu và dõi mắt theo đồng chí Châu, hồi hộp chờ đợi phản ứng của phía bên kia. Mất vài phút im lặng, bất ngờ từ dưới hào có 3 người lính quân đội Sài Gòn đi lên tiến về chỗ đồng chí Châu đang đứng. Sau cái bắt tay dè dặt, họ chào hỏi nhau nhưng những người lính bên kia vẫn tỏ ra hoài nghi. Thấy không khí có vẻ căng thẳng, đồng chí Châu lấy trong túi áo bao thuốc lá Điện Biên, “đặc sản” của bộ đội ta thời bấy giờ ra mời: “Hãy hút thử điếu thuốc lá xã hội chủ nghĩa”. Nhận điếu thuốc lá Điện Biên, một người lính bên kia cũng lấy bao thuốc lá Ru-by mời lại. Sau đó, hai bên vừa hút thuốc vừa nói chuyện vui vẻ như thể trước đó họ chưa từng là kẻ thù của nhau.

Khoảnh khắc ấy đã mở đầu cho những cuộc tiếp xúc giữa hai bên sau này. Cũng từ lần đó, tiếng súng im hẳn ở khu vực Tiểu đoàn 21 chốt giữ, những người lính không còn dè chừng nhau như trước nữa, thi thoảng, họ lại gọi nhau ra “vùng ranh giới” để trò chuyện. Ngoài ra, hai bên còn thường xuyên thi đấu vật, vật tay, đây cũng là môn thể thao hiếm hoi mà những người lính trên chiến trường có thể so tài nên nó thu hút được sự cổ vũ nhiệt tình từ hai phía.

Cuối năm 1973, thực hiện chủ trương của cấp trên, hai bên đã căng dây thép gai làm hàng rào ranh giới. Cùng thời điểm này, những “ngôi nhà hòa hợp dân tộc” được xây dựng để hai bên gặp mặt, giao lưu. Tiểu đoàn 21 được cấp trên giao nhiệm vụ xây dựng 3 “ngôi nhà hòa hợp” bằng cây rừng, lợp mái tôn, có hai cửa hướng sang hai bên và đặt ở giữa ranh giới để thuận tiện cho các bên đi lại. Từ khi có “ngôi nhà hòa hợp”, số lượng những buổi tiếp xúc cũng tăng lên. Những lần gặp mặt, ngoài thuốc lá, hai bên còn mang theo bánh, kẹo, lương khô… để góp vui. Trong “ngôi nhà hòa hợp”, những người lính gác lại hận thù, họ tâm tình, trò chuyện như người cùng một nhà. Những câu chuyện nơi hậu phương là chủ đề được những người lính thường xuyên mang ra chia sẻ. Ngoài ra, bộ đội ta còn hướng dẫn những người lính bên kia học hát, các tiết mục văn nghệ “cây nhà lá vườn” cũng được các bên thường xuyên biểu diễn cho nhau nghe. Những ngày tháng đó thực sự là thời khắc lịch sử hiếm hoi để những người lính có khoảng thời gian tận hưởng giây phút hòa bình.

Bài và ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG