20 triệu lít xăng bị thiêu cháy, cùng 9 toa tàu và 6 ô tô chuyên dụng biến thành than, hàng trăm binh sĩ, sĩ quan ngụy bị tiêu diệt, tướng ngụy Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh vùng 1 chiến thuật mất ăn, mất ngủ và tý nữa thì mất cả chức. Trận đánh kho xăng Liên Chiểu của đại đội 1, tiểu đoàn Đặc công 89 diễn ra đến nay đã hơn 40 năm, mà âm hưởng hào hùng của nó vẫn còn vang vọng mãi.
Mới đây, trong buổi gặp mặt các chiến sĩ đặc công, biệt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chúng tôi đã tìm gặp người chỉ huy trận đánh ấy. Ông là Đại tá Trần Kim Hùng, Anh hùng LLVT nhân dân. Mấy ai biết, con người có vóc dáng nhỏ thó ấy, mà ẩn chứa bên trong biết bao nhiêu nội lực, biết bao nhiêu trí tuệ và lòng quả cảm. Câu chuyện của 40 năm về trước cứ sáng lên qua từng lời kể của ông:
- Kho xăng Liên Chiểu nằm ở phía nam đèo Hải Vân, ở bình độ 25-30 mét so với mặt nước biển, được bảo vệ, canh phòng một cách nghiêm ngặt, nghiêm ngặt đến mức mà chính tên Uy-li-am Côn-bai, Giám đốc tình báo CIA, khi đến thị sát tại đây đã phải thốt lên: “Chỉ khi nào núi Hải Vân sụp đổ lấp hết vịnh Đà Nẵng, thì Việt cộng mới đánh được kho xăng Liên Chiểu. Kho xăng này chính là cái “dạ dày” nuôi sống phương tiện chiến tranh của vùng 1 chiến thuật”.
- Thưa bác, kho xăng bảo vệ nghiêm ngặt như vậy, các bác có bùa phép gì mới “xuất quỷ nhập thần” trước mắt kẻ thù!- Tôi hỏi.
Ông cười khà khà:
- Bùa phép của bọn tôi là lòng quả cảm, là sự khổ luyện đồng chí ạ. Tôi kể chuyện này, chắc nhiều người không tin đâu. Trước trận đánh, tại khu căn cứ Nam Yên, thuộc xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, đại đội 1 chúng tôi làm lễ xuất quân, trước sự chứng kiến của đại diện lãnh đạo Bộ tư lệnh Quân khu 5, của Thành ủy và Thành đội Đà Nẵng, 13 cán bộ, chiến sĩ giơ cao nắm tay thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Chúng tôi thanh thản vĩnh biệt đồng đội bước vào trận đánh. Nói là vĩnh biệt, vì trước khi vào trận, tổ chức đã làm lễ truy điệu cho chúng tôi, xác định trận đánh này là trận quyết tử. Trước giờ xuất trận, chúng tôi còn được nhìn thấy nơi “yên nghỉ cuối cùng” của mình do anh em dân công hỏa tuyến chuẩn bị...”. Chấp nhận đi vào chỗ chết, biết mười mươi là sẽ chết mà vẫn cứ thanh thản, ung dung, chỉ những người chiến sĩ chúng ta chấp nhận hy sinh để mang lại sự sống cho đồng bào mình mới hành động như vậy mà thôi.
Theo kế hoạch, vào tối ngày 3 rạng sáng ngày 4 tháng 8 năm 1965, chúng tôi sẽ diệt đại đội bảo an và đốt cháy kho xăng của địch. Trước đó cả tuần lễ, chúng tôi vượt qua sự bố phòng từ xa của địch, bí mật đến địa điểm tập kết cuối cùng. Suốt 4 ngày đêm giấu mình trong khu rừng non cách kho xăng chừng 250 mét, là 4 ngày bọn tôi quan sát mọi hoạt động của địch, là 4 ngày căng thẳng đợi chờ. Nhờ những ngày luyện tập ăn sương, nằm gió, lúc thì chịu cái nắng hè thiêu đốt đến cháy da, khi thì cắn răng vượt qua những đêm đông mưa dầm buốt ruột, luyện cho mình chịu đựng sự đói khát đến cháy họng, chịu đựng sự tấn công của các loại côn trùng... Có đồng chí vùi mình trong đất, bị cả một tổ kiến rừng đốt đến bầm da tím thịt, mà vẫn cắn răng chịu đựng. Chính vì vậy mà khi chúng tôi tiếp cận sát mục tiêu, bọn thám báo, biệt kích đi lùng sục dừng chân ngay nơi bọn tôi giấu quân cả tiếng đồng hồ mà vẫn không phát hiện ra. Sẩm tối, tôi cho bộ đội hướng chủ yếu tiếp cận mục tiêu, các bộ phận đánh vòng ngoài cũng áp sát trận địa. Trên các vọng gác, bọn địch bắn cầm canh. Chúng tôi đang tiếp cận một cách thuận lợi thì có một tràng AR15 quét ngay trước mặt, lập tức các đèn pha chéo cánh quét sáng toàn khu vực. Chúng tôi nín thở dán mình xuống mặt đất. Đàn chó săn của địch nghe súng nổ, sủa oang oang. 10 phút, rồi 15 phút trôi qua không thấy động tĩnh gì, loạt đạn vừa qua chỉ là một trong các loạt đạn vu vơ. Tôi lệnh cho bộ đội tiếp cận mục tiêu. Đêm tối, anh em lấy khúc củi mục có lân tinh cài lên lưng để làm ám hiệu nhận nhau. 23 giờ 50 phút các tổ đã bám sát bọn lính gác, sát đến mức đưa mũi súng vào trước ngực bọn chúng có nhắm mắt bắn cũng trúng. Các chiến sĩ hỏa lực B40, B41 đã lấy đường ngắm vào các hỏa điểm chỉ chờ mũi chủ yếu tiềm nhập tiếp cận áp sát và điểm hỏa các bồn xăng là các bộ phận đồng loạt nổ súng tiêu diệt địch.
Đúng 24 giờ tôi kiểm tra lại lần cuối và ra hiệu cho mũi chủ yếu tiếp cận mục tiêu. Chúng tôi ào vào như gió, áp quả bộc phá vào thành đáy của tất cả 9 bồn xăng. Để bảo đảm chắc thắng tôi trườn đi một vòng kiểm tra các bồn khác. Trở về vị trí trung tâm, một tên lính thấy động xả súng về phía tôi. Đồng hồ điểm 0 giờ 5 phút ngày 5 tháng 8 năm 1965. Tay phải tôi dùng súng bắn chết tên lính vừa xả đạn, tay trái tôi bắn pháo hiệu đỏ, lệnh cho tất cả các bộ phận đồng loạt nổ súng. 9 quả bộc phá phát nổ. Tiếng nổ ầm ầm không thể lẫn vào tiếng các loại vũ khí khác. Các chiến sĩ quyết tử lao như bay ra khỏi khu vực nguy hiểm, lửa từ 9 bồn xăng chập vào nhau biến thành biển lửa sáng rực một góc trời, ở cách xa khoảng 15km vẫn nhìn thấy rõ đám cháy. Dòng xăng ở trong các bồn tràn ra đổ ào ào xuống vịnh Đà Nẵng như những con rồng lửa khổng lồ trườn nhanh trên mặt biển ra hướng cảng sâu. Những con tàu địch đang neo tại bến hốt hoảng nhổ neo tháo chạy. Bọn địch hoảng loạn chạy tứ tung, nhiều tên chết vì xăng đốt cháy, không ít tên chết do vấp phải mìn do chính tay chúng cài...
Các mũi báo về, mục tiêu đã bị diệt gọn, đặc biệt không có đồng chí nào của ta bị thương vong. Trong niềm vui mừng khôn xiết, tôi bắn lên trời một phát pháo hiệu xanh ra lệnh rút quân về vị trí đã định sẵn. Cả tiếng đồng hồ sau, trên trời thì máy bay trực thăng, dưới đất thì xe tăng, xe thiết giáp và xe chở lính cứu hỏa hối hả lao về phía kho xăng, nhưng tất cả đều vô vọng. Ngọn lửa mỗi lúc một bốc cao, tiếng mìn, tiếng đạn gặp sức nóng nổ ầm ầm...
Con người lập nên chiến công huyền thoại ấy giờ đã là một cựu chiến binh. Vẫn còn nguyên vẹn trong ông phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Mấy năm nay ông tích cóp từ lương hưu, từ những lứa chăn nuôi gia súc, lại tập hợp những đồng đội cũ, đi về chiến trường xưa tìm những đồng đội còn nằm lại ở những cánh rừng.
Đặng Trung Hội ghi