QĐND - Mùa khô năm 1967, tôi được tham gia Đoàn chuyên gia Việt Nam sang giúp cách mạng Lào. Tại nước bạn, tôi được phân công về giúp Tổ công tác của Tỉnh đội Luông Nậm Thà đi xây dựng cơ sở ở huyện vùng cao Mường Xinh. Tổ công tác có tôi là chuyên gia, bạn có bốn người, trong đó có một cán bộ dân vận tên là A Co, tộc người Cọ. Sở dĩ tổ công tác có A Co, người Cọ vì địa bàn chúng tôi đến là vùng bà con bộ tộc Cọ sinh sống, hầu hết nói tiếng Cọ thuộc ngữ hệ Tạng - Miến, rất ít người nói thạo tiếng Lào.

Ông Nguyễn Trọng Thanh (thứ hai, từ phải sang) cùng đồng đội thăm lại căn cứ của Tổ chuyên gia Mường Xinh thuộc Đoàn chuyên gia Việt Nam tại Luông Nậm Thà (tháng 5-2012).

Luông Nậm Thà là tỉnh được lực lượng liên quân Việt-Lào giải phóng từ Chiến dịch Nậm Thà tháng 5-1962. Nơi chúng tôi đến là vùng tranh chấp giữa lực lượng Neo Lào Hắc Xạt và quân đội cực hữu Viêng Chăn, toàn rừng già, núi đá rất hiểm trở. Nơi đây, mỗi tháng đều đặn có hai chuyến trực thăng Mỹ lên xuống nhưng bạn chưa nắm được hoạt động cụ thể của quân Mỹ và ngụy Lào mà chỉ phỏng đoán chúng đem gạo, muối, nhu yếu phẩm đến để phân phát nhằm mua chuộc, lôi kéo dân theo chúng chống phá cách mạng. Vì thế, nhiệm vụ của tổ công tác chúng tôi là tìm cách tiếp cận dân, tuyên truyền vận động gây dựng cơ sở cách mạng, không cho địch thâm nhập lôi kéo thanh niên theo chúng làm lính, xây dựng bàn đạp để  lấn chiếm vùng giải phóng Mường Xinh, Nậm Thà.

Qua một thời gian công tác tại một số bản vùng cao Mường Xinh đạt kết quả tốt, chúng tôi quyết định phát triển vào sâu hơn nữa, sang bản Pa Phúc nằm gần ngã ba biên giới Lào, Mi-an-ma, Trung Quốc, nơi đây là điểm nóng tranh chấp giữa ta và địch. Vì chưa nắm được tình hình Pa Phúc ra sao, đầu giờ chiều hôm đó, khi cách bản chừng một giờ đi bộ, nhóm chúng tôi dừng lại và cử A Co cải trang thành người dân đi làm nương vào bản nắm tình hình. Khoảng bốn giờ chiều, A Co quay ra, mắt chớp chớp, buồn bã nói với tôi:

- Chuyên gia Thanh à, khó lắm rồi!

Tôi sốt ruột:

- A Co, cứ bình tĩnh, khó thế nào?

A Co lắc đầu xua tay:

- Pa Phúc đang “cấm bản”,  chúng ta bị tục “cấm bản”,  không thể vào được!

Sau khi A Co nói rõ sự tình chúng tôi mới vỡ lẽ, thì ra trong bản Pa Phúc vừa xảy ra một sự việc mà tập tục người Cọ coi là “tai họa”, đó là có một sản phụ trẻ vừa sinh đôi hai con trai. Theo luật tục của người Cọ, nhà nào có vợ sinh đôi thì cặp bé đó sẽ bị “ma ám” tức là đã gieo “tai họa” cho nhà mình và cho cả bản. Để trừ ma, tránh rủi ro cho dòng họ hai bên và cả bản, buộc gia đình đó phải mời thầy mo đến cúng trừ ma và phải có sự chứng kiến của dân bản. Khi thầy mo cúng đuổi ma, cặp bé sơ sinh buộc phải đặt ở chân cầu thang nhà sàn. Thủ tục cúng rất rườm rà, kéo dài tới ba, bốn giờ đồng hồ.

Sau khi cúng trừ ma xong, hai trẻ sơ sinh bị ném vào trong nhà và bố mẹ đã “chót” sinh đôi được phép vào nhà dù rất đau đớn cũng phải cố chọn lấy ít vật dụng cần thiết, đồ ăn, ít muối nếu có, mỗi người một gùi và ngay lập tức phải rời khỏi bản. Cùng lúc, ngôi nhà được thầy mo phóng hỏa đốt. Lửa cháy càng to, căn nhà bị thiêu càng nhanh thì tà ma sẽ bị đuổi đi nhanh hơn. Cặp vợ chồng bị hình phạt phải vào rừng tự sống, sau 3 năm, 3 tháng mới được quay về bản (theo cách tính lịch của người Cọ thì 3 năm 3 tháng tương đương 1 năm 6 tháng dương lịch).

Là người Cọ, lớn lên đã được biết hình phạt này theo hủ tục của bộ tộc mình, sau khi báo cáo tình hình, A Co buồn bã lẩm bẩm: “Chắc vợ chồng nó sẽ chết thôi, thật tội nghiệp”. Lời A Co nói trúng với suy nghĩ của bốn chúng tôi bởi người phụ nữ vừa sinh con vốn rất yếu, lại bị khủng hoảng tinh thần, phải sống trong hoàn cảnh người rừng sẽ sinh bao bệnh khác và hầu như sẽ chết. Người đàn ông vì thiếu ăn, sống hoang dã cũng sẽ thành người rừng, rất sợ tiếp xúc với mọi người bởi mặc cảm tội lỗi do vợ sinh đôi nên đang phải chịu hình phạt của ma, thần trời, thần rừng.

Chiều tối hôm ấy, nghe A Co báo cáo xong, cả đêm, năm chúng tôi-một chàng trai Việt, bốn chàng trai Lào không ai ngủ được. Hình ảnh hai bé trai song sinh xấu số bị thiêu trong lửa đỏ, rồi không biết đêm nay đôi vợ chồng đó đang tạm trú ở hốc núi nào, họ sẽ sống ra sao trong những ngày chịu hình phạt của hủ tục khắc nghiệt này cứ ám ảnh trong đầu tôi. Tôi quyết định bàn với các bạn phải tìm cách cứu đôi vợ chồng xấu số này. Trời chưa sáng rõ, tôi đánh thức cả nhóm dậy bàn “chuyên đề” phải tìm cứu cho được cặp vợ chồng vì hủ tục mà hôm qua mất hai con, bị buộc rời  khỏi bản vào rừng. Chừng như đêm qua ai cũng cùng một suy nghĩ này, nên khi tôi vừa nêu vấn đề, cả nhóm nhất trí ngay. Cả nhóm bàn luận sôi nổi, chúng tôi quyết định tạm chuyển hướng công tác, ưu tiên tìm cho được cặp vợ chồng… Nhưng giữa rừng núi điệp trùng, đầy thú dữ, phỉ, các băng buôn bán ma túy, việc tìm kiếm không đơn giản. Rất may, nhờ A Co, chúng tôi biết luật tục của người Cọ, do sinh đôi con trai, bố mẹ khi bị đuổi đi ra khỏi bản, buộc phải đi về hướng mặt trời mọc.

Phán đoán đôi vợ chồng đó sẽ không vào rừng quá sâu, cũng không đi quá xa bản lắm và chắc phải gần nguồn nước, chúng tôi men con suối nhỏ theo hướng đông đi tìm đôi vợ chồng bất hạnh. Sau hai ngày băng rừng, vượt núi, không quản thú dữ ở vùng đại ngàn thượng nguồn sông Mê Công, sáng ngày thứ ba, chúng tôi phát hiện trong một khe núi có tia khói xanh tỏa ra. Đến nơi, chúng tôi gặp hai vợ chồng trẻ đang run rẩy ngồi bên đống lửa nhỏ. Thấy người lạ, họ quá sợ, ngồi nép vào vách đá, váy áo bị gai rừng cào rách, mắt đờ đẫn vì đã quá kiệt sức. Người vợ có lẽ vì sợ quá, cứ nép vào người chồng. A Co hỏi họ bằng tiếng Cọ, người chồng chậm rãi nói trong mệt mỏi. A Co nói lại với chúng tôi câu người chồng nói là: “Xin đừng bắt họ về bản, xin tha tội chết cho họ”. Sau mấy câu A Co nói với hai vợ chồng, họ đã biết chúng tôi là ai và tỏ ra bớt sợ hơn. Cũng may nhờ có ít gạo, lương khô của chúng tôi tiếp ứng, họ hồi tỉnh khá nhanh. Chúng tôi nói rõ ý định đón họ về vùng giải phóng. Có lẽ đã có niềm tin vào chúng tôi, hai vợ chồng đồng ý. Thế là chúng tôi thay nhau cáng, dìu hai vợ chồng, lại băng rừng, vượt núi, sau năm ngày, đôi vợ chồng người Cọ đã được đưa về vùng giải phóng Mường Xinh. Sau khi hồi phục sức khỏe, qua họ, chúng tôi hiểu rõ được  phía tây - bắc bản Pa Phúc vùng cực bắc thượng nguồn sông Mê Công có một cơ sở huấn luyện, đào tạo lực lượng phỉ của chính quyền cực hữu Viêng Chăn. Nơi đây, cố vấn Mỹ thường dùng trực thăng tới kiểm tra, huấn luyện và tiếp tế hậu cần. Từ tin ban đầu ấy, ngay sau đó, chúng tôi trở lại Pa Phúc trong chuyến công tác tiếp theo để tiếp tục nắm tình hình, gây dựng cơ sở, sau đó không lâu, căn cứ huấn luyện phỉ của địch bị quân ta tập kích tiêu diệt.

Còn đôi vợ chồng người thanh niên, sau khi được chăm sóc, hồi phục sức khỏe và qua thẩm tra nhân thân, cả hai được bồi dưỡng, huấn luyện thành cán bộ cơ sở trong vùng dân tộc Cọ khu vực Pa Phúc, Mường Xinh.

Thông qua sự việc cụ thể này và đề xuất của Đoàn chuyên gia Việt Nam, Tỉnh ủy Luông Nậm Thà chỉ đạo tất cả các tổ công tác, các đơn vị vũ trang trong công tác dân vận, xây dựng cơ sở cách mạng, phải coi trọng tuyên truyền, vận động nhân dân từ bỏ hủ tục lạc hậu, thực hiện nếp sống văn hóa, vệ sinh. Chỉ đạo này đã góp phần tích cực vào công cuộc giải phóng đất nước Lào.

Vậy mà đã 48 năm. Vừa qua, một số cựu chuyên gia chúng tôi được lãnh đạo tỉnh Luông Nậm Thà mời sang thăm chiến trường xưa, thăm Huyện ủy Mường Xinh, được gặp một số cán bộ của bạn thời “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” cùng “kề vai sát cánh” đi xây dựng cơ sở. Thật cảm động, chúng tôi được gặp lại nhiều cán bộ dân tộc Cọ vùng cao Nậm Thà, một số là cán bộ cao cấp của quân đội, cán bộ chủ chốt của cấp ủy, chính quyền huyện, tỉnh. Số cán bộ trẻ người Cọ và các bộ tộc thiểu số khác cũng đã được chú ý đào tạo. Đời sống của nhân dân các bộ tộc Lào nơi đây đã được cải thiện đáng kể. Nhiều cụm bản có trường học, bệnh xá mới, khu chợ dân sinh khá khang trang, hàng hóa phong phú.

Chúng tôi rất cảm động được bạn bố trí thăm lại bản Cọ, Pa Phúc, được cán bộ, nhân dân chào đón như những người anh em ruột thịt nay trở về nhà. Chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của vùng cao Nậm Thà, tôi lại nhớ bao đồng đội trong Đoàn chuyên gia trên đất Triệu Voi một thời gian khổ, trong đó có những anh em đã ngã xuống mảnh đất này. 

Với riêng tôi, điều đặc biệt quý giá là có dịp được thăm lại ngôi nhà cũ Pháp xây ở Nậm Thà, đây là căn cứ của Tổ chuyên gia Mường Xinh thuộc Đoàn chuyên gia Việt Nam tại Luông Nậm Thà thời ấy.      

Tại nơi đây, tôi đã vinh dự đọc lời thề dưới cờ Đảng, chân dung Bác Hồ, đó là ngày Đảng ta đón nhận tôi vào đội ngũ trên đất bạn Lào.

NGUYỄN TRỌNG THANH

TRỊNH THANH PHI (Cựu chuyên gia Việt Nam tại Lào, ghi)