Tiểu đoàn 38 của chúng tôi được biên chế thành 4 đại đội: Đại đội 1 gồm khu Ba Đình và huyện Gia Lâm; Đại đội 2 gồm khu Đống Đa và huyện Đông Anh, đóng quân tại xã Đại Mạch; Đại đội 3 gồm khu Hoàn Kiếm và huyện Thanh Trì, đóng quân tại xã Đại Đồng và Đại đội 4 gồm khu Hai Bà Trưng và huyện Từ Liêm, đóng quân tại xã Kim Chung. Sau 5 tháng huấn luyện, đến ngày 2-2-1971, chúng tôi hành quân đến vị trí tập kết tại Bãi Nai, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tại đây, Tiểu đoàn 38 được bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội; Đại tá Lê Nam Thắng, Tư lệnh; cùng Đại tá Đoàn Phụng, Chính ủy Bộ tư lệnh Thủ đô lên thăm hỏi, động viên và giao nhiệm vụ: Tăng cường cho Chiến dịch Đường 9-Nam Lào (Mặt trận B70). 

Tin đi B lan ra rất nhanh, chỉ ngày hôm sau đã có người thân lên thăm con em mình. Căn nhà sàn nơi tiểu đội tôi trú quân, hầu hết các chiến sĩ đều có người thân lên thăm. Sau nhiều ngày vừa hành quân, vừa thực hiện nhiệm vụ, đến chiều 17-3, Tiểu đoàn 38 lên xe hành quân vào chiến trường theo Đường 15, dừng chân nghỉ ở Trạm 5. Từ đây, bắt đầu chặng đường hành quân bộ. Thử thách đầu tiên là vượt qua Cao điểm 900 dài khoảng 30km. Sau một đêm và hơn nửa ngày, chúng tôi đến Trạm 6. Sau gần một tuần hành quân bộ, chúng tôi đến Trạm 12 thuộc Binh trạm 31 và ngày 26-3-1971, chúng tôi được quân lực Binh trạm 32, Bộ tư lệnh Trường Sơn nhận quân. Đại đội 1 về Tiểu đoàn 22, Đại đội 2 về Tiểu đoàn 14 và Đại đội 4 về Tiểu đoàn 16, đều là các tiểu đoàn pháo cao xạ.

Hai ngày sau đó, tại Tiểu đoàn 22 pháo cao xạ thuộc Binh trạm 32, Đại đội 1, Tiểu đoàn 38 chúng tôi mang phiên hiệu mới là C32 (do thành lập tại Binh trạm 32). Đại đội trưởng là Thiếu úy Đàm Ngọc Sinh, quê Nghệ An, nguyên Trợ lý tác chiến Tiểu đoàn 22. Chính trị viên là Thiếu úy Nguyễn Chí Long, nguyên Trợ lý chính trị Cục Phòng không, Bộ tư lệnh Trường Sơn. Sau một tuần huấn luyện cấp tốc về binh khí kỹ thuật súng máy cao xạ 12,7mm, ngày 10-4, Đại đội 32 tập kết tại Trạm 32 thuộc Binh trạm 32.

Tại đây, nhiệm vụ cụ thể được phổ biến đến từng chiến sĩ. Theo chỉ thị của Bộ tư lệnh Trường Sơn, Binh trạm 32 được giao nhiệm vụ tiếp nhận 3 đại đội của Tiểu đoàn 38, Bộ tư lệnh Thủ đô để thành lập Tiểu đoàn 84 súng máy cao xạ 12,7mm. Ngoài Đại đội 32 do Tiểu đoàn 22 thành lập, thì Đại đội 14 do Tiểu đoàn 14 thành lập và Đại đội 16 do Tiểu đoàn 16 thành lập.

Như vậy, sau khi được tăng cường cho Mặt trận B70, 3 đại đội của Tiểu đoàn 38 Bộ tư lệnh Thủ đô trở thành chiến sĩ Tiểu đoàn 84 pháo cao xạ thuộc Sư đoàn 968 làm nhiệm vụ quốc tế ở Nam Lào. Là một tiểu đoàn binh chủng trong đội hình sư đoàn chủ lực, cơ động chiến đấu nên ngoài việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính là “vít cổ” những tên “giặc trời”, Tiểu đoàn 84 pháo và súng máy cao xạ (gồm các đại đội: 14, 16 và 32) liên tục phối thuộc với các trung đoàn bộ binh 9, 19 và 39 trong các chiến dịch lớn và nhỏ, trong đó có những thời điểm, những trận đánh, các chiến sĩ phòng không đã chiến đấu như những chiến sĩ bộ binh thực thụ.

Ngày 18-1-1972, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 39) tiến công tiểu đoàn địch ở Keng Nhao (tây bắc Pắc Xoòng 2km) nhưng trong quá trình phát triển chiến đấu không thuận lợi. Ngày 23-1, Bộ tư lệnh sư đoàn lệnh cho Trung đoàn 39 điều tiếp Tiểu đoàn 8 (có tăng cường hai khẩu đội 12,7mm của Đại đội 32 chúng tôi) phối hợp với Tiểu đoàn 7 kiên quyết đẩy địch ra khỏi cứ điểm Keng Nhao. Từ thị xã Sa-la-van, sau ba ngày hành quân, đến 19 giờ ngày 25-1, chúng tôi chiếm lĩnh trận địa trong một suối cạn, cách địch chưa đầy 100m. Pháo hạ thấp nòng, nhằm thẳng các ổ đề kháng của địch. Trận chiến đấu đêm đó diễn ra ác liệt, ta và địch giành nhau từng tấc đất. Mờ sáng 26-1, cụm địch ở cứ điểm Keng Nhao không chống đỡ nổi, phải rút chạy về phía ngã ba Lào Ngam. Phía ta có 12 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, trong đó có xạ thủ số 1 Lê Quang Tân, ở phố Hàng Gai (Hoàn Kiếm, Hà Nội). Đặc biệt, trong chiến dịch mùa khô năm 1972-1973 tại Sa-la-van, Bô-lô-ven (Nam Lào) kéo dài 128 ngày đêm, Tiểu đoàn 84 pháo cao xạ đã bắn rơi 21 máy bay Mỹ, trong đó đại đội chúng tôi bắn rơi 8 chiếc.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, một phần Tiểu đoàn 84 thuộc Trung đoàn 39 Quân tình nguyện Việt Nam đã hỗ trợ các lực lượng vũ trang của bạn Lào, phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở các tỉnh Nam Lào. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả, tháng 3-1976, Trung đoàn 39 trong đội hình Đoàn chuyên gia quân sự 565 đã lên đường về nước trong sự chia tay đầy lưu luyến và xúc động của quân và dân Nam Lào.        

LÊ AN KHÁNH