QĐND - Chính ủy Đặng Tính vóc người tầm thước, nước da trắng hồng. Ông lắng nghe nhiều hơn nói. Kỷ niệm về ông thật nhiều. Mỗi cán bộ, chiến sĩ đều nhìn thấy ở ông những điều tốt đẹp theo cách riêng của mình. Trong bài viết nhỏ này, tôi chỉ viết vài ba kỷ niệm mà tôi được biết.
 |
|
Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên và Chính ủy Đoàn 559 Đặng Tính (ngồi giữa) nói chuyện tại một lán rừng Trường Sơn, tháng 3-1973. Ảnh tư liệu.
|
1. Đầu hè năm 1965, trận địa pháo cao xạ chúng tôi, đóng quân ở cánh đồng làng Đông Tác, ngay đầu thị xã Thanh Hóa, từ phía bắc đi vào. Buổi sáng hôm ấy, chúng tôi vừa thức dậy, đang làm công tác chuẩn bị chiến đấu thì anh Nhự, Tiểu đội trưởng nuôi quân gọi ầm lên:
- Đại đội trưởng ơi, đại đội trưởng!
Lúc ấy, Đại đội trưởng Đàm Quốc Đoàn đang theo dõi chúng tôi kiểm tra các tham số kỹ thuật. Nghe Nhự gọi có vẻ hớt hải, ông vội bước ra, hỏi:
- Có việc gì đấy?
- Báo cáo đại đội trưởng, Chính ủy quân chủng đến thăm ạ.
- Chính ủy đâu rồi?
- Chính ủy còn đang đánh răng, rửa mặt. Tôi chạy đi tìm đại đội trưởng.
- Chính ủy đến lâu chưa?
- Tối hôm qua ạ.
- Sao bây giờ mới báo cáo?
- Chính ủy bảo để ban chỉ huy đại đội ngủ. Không được gọi.
- Chính ủy ngủ chung với các cậu à? Ông có ngủ được không?
- Tôi mời Chính ủy nằm giường của tôi. Nhưng ông nhường cho cậu lái xe. Còn ông và cậu công vụ, thư ký, trải bạt ra đất ạ.
- Sao để Chính ủy nằm đất thế. Đáng lẽ cậu phải lẻn đi báo cho mình ngay chứ.
- Báo cáo đại đội trưởng, chính ủy nằm ngoài cửa, đi thế nào được. Nhưng ông cũng chả ngủ. Mỗi lần báo động, ông lại chồm dậy bấm đồng hồ giây. Sau đó soi đèn pin đã che bớt ánh sáng, ghi vào sổ tay ạ.
Vừa lúc ấy, Chính ủy ra trận địa.
Chúng tôi từ các hầm pháo ùa ra đón ông. Ông vừa từ Khu 4 ra. Như sợ chúng tôi phải chờ lâu, ông bước vội, dáng người như vươn về phía trước.
Ông hỏi chúng tôi rất tỉ mỉ. Ăn ở, tắm giặt. Đặc biệt trong tuần qua mỗi ngày, mỗi lần máy bay địch xuất hiện bao nhiêu lần chiếc. Chúng thường nghi binh hướng nào và bất ngờ ập vào hướng nào đánh trận địa ta và đánh cầu Hàm Rồng. Chúng thường giở những thủ đoạn gì? Quy luật hoạt động của chúng như thế nào? Tại sao mấy ngày gần đây đơn vị hay để lỡ thời cơ? Ông chú ý lắng nghe, ghi chép cẩn thận vào sổ tay rồi bàn bạc cụ thể với ban chỉ huy đại đội.
Buổi trưa hôm đó, đất trời xứ Thanh nóng tới mức sờ tay lên nòng pháo, lên cái máng nạp đạn của pháo thủ số 5 tôi cũng bỏng rãy như sờ vào vung nồi nước đang sôi.
Chính ủy lặng lẽ ra hầm pháo chúng tôi lúc nào không ai biết, mặc dầu cả khẩu đội chúng tôi vẫn trực chiến, người ngồi, người đứng trên mâm pháo.
Chính ủy cũng thấy lạ. Bởi tất cả, ai nấy đều ở vị trí sẵn sàng chiến đấu, đôi mắt mở to nhìn về phía trước.
Chính ủy đến gần pháo thủ số 1 Hoàng Văn Ấp. Ấp quê ở Phú Bình, Thái Nguyên. Da đen như cột nhà cháy. Ấp thuộc tạng ít lời mà gan lì cóc tía. Bàn chân trái Ấp đạp cò điêu luyện tới mức điểm xạ ngắn ba viên là ba viên, điểm xạ dài năm viên thật rõ ràng. Chính ủy khéo léo giơ ngón tay trỏ nhè nhẹ khua trước cặp mắt mở to của Ấp mà chẳng thấy có phản ứng gì. Ông thầm nghĩ, cậu ấy đã ngủ. Ngủ mở mắt. Thật lạ. Lạ tới mức xưa nay chưa từng có. Ông nhẹ nhàng qua pháo thủ số 4 và số 2, và cũng giơ ngón trỏ nhẹ khua trước các cặp mắt mở to của anh em vẫn chẳng thấy họ có phản ứng gì.
Ông thấy cần tìm hiểu hiện tượng kỳ lạ này.
Thì mấy tuần nay, không quân địch hoạt động liên miên, hết tốp này đến tốp khác. Nhưng chỉ lởn vởn ở vòng ngoài. Nhiều hôm anh em thức trắng đêm. Nhưng ban ngày vẫn phải huấn luyện, trực ban chiến đấu củng cố công sự... khiến đầu óc bộ đội rất căng thẳng. Do đó khi trực ban chiến đấu giấc ngủ cứ ập đến. Chúng tôi bảo nhau cấu mạnh vào đùi non cho tỉnh ngủ. Thằng Phú lỉnh số 2 còn nhờ tôi cấu hộ thật đau. Đã cấu chặt lại còn vặn xoắn. Ấy vậy mà nó vẫn cứ ngủ. Nó là thằng dễ ngủ nhất trong khẩu đội. Hai vế đùi non nó, tôi cấu cho thâm tím mà nó vẫn cứ ngủ. Nhưng không một ai trong chúng tôi chịu mang tiếng ngủ gật khi trực chiến nên cứ mở rõ to đôi mắt, nhìn vào một điểm nhất định. Mở to mắt mãi thành quen. Nhưng cơn buồn ngủ vẫn cứ ập đến bất kỳ lúc nào.
Nghe chuyện chúng tôi, Chính ủy ứa nước mắt. Ông thương chúng tôi đến quặn lòng. Do vậy mấy lần máy bay Mỹ lao vào đánh cầu Hàm Rồng, những loạt đạn đầu bị lỡ thời cơ. Anh em trực ban chiến đấu căng thẳng quá. Báo động liên miên cả đêm, cả ngày. Tuổi trẻ thiếu ngủ. Đó là nhu cầu tối thiểu của cơ thể con người. Chỉ với phép tính cộng đơn giản, các lần báo động cả đêm và ngày, ông đã theo dõi ghi vào sổ tay đủ biết thời gian bộ đội phải bám pháo, sẵn sàng chiến đấu.
Do vậy ông đã cho phép chúng tôi không phải nghiêm ngặt tuân theo thời gian quy định của quân chủng. Được tranh thủ huấn luyện vào giờ báo động để bộ đội được thay nhau nghỉ ngơi... Nhờ vậy sức khỏe của bộ đội được bảo đảm, trực chiến tỉnh táo, dẻo dai.
2. Tôi nhớ mãi cuối năm 1967 bộ đội cao xạ chúng tôi chốt giữ ở phía đông Hà Nội. Chúng tôi có nhiệm vụ bảo vệ cầu Đuống, cầu Long Biên, Nhà máy điện Yên Phụ và khu Ba Đình lịch sử. Ngay từ đầu tháng 5-1967, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đã lệnh cho Tập đoàn 7 lực lượng đặc nhiệm 77 thực hiện chiến dịch “sấm rền 56”, tập trung đánh phá 10 mục tiêu ở thủ đô Hà Nội.
Nhiều tốp máy bay tiêm kích, cường kích từ hạm đội Orikhani và Tacli, Còrạt, Ubon (Thái Lan) mỗi trận hàng trăm chiếc lao vào đánh cầu Long Biên và Nhà máy điện Yên Phụ. Nhưng thất bại thảm hại. Có ngày bộ đội phòng không Hà Nội đã tiêu diệt 5 chiếc, 6 chiếc máy bay địch cả tiêm kích F4 và cường kích ném bom F105. Đánh mục tiêu không được, chúng thay đổi chiến thuật chỉ dùng lực lượng nhỏ đánh cầu và nhà máy điện còn phần lớn đánh các trận địa pháo cao xạ bằng bom bi, bom phát quang và bom tấn có điều khiển bằng vô tuyến điện. Đại đội 1 pháo cao xạ anh dũng chúng tôi mất cả khẩu đội 5 thương vong. Các khẩu đội 1, 2 đều có pháo thủ hy sinh và thương vong. Đại đội 75 Trung đoàn 212 bị địch rải bom bi dày đặc vào trận địa. Bộ đội thương vong nhiều. Các đội 40 và 41 Trung đoàn 232, bom Mỹ đánh trúng trận địa. Bị thương vong nặng. Mất sức chiến đấu.
Một số cán bộ đề nghị trang bị thêm mũ rơm, áo giáp rơm cho bộ đội và một số phụ kiện bảo vệ pháo.
Trước trận đánh, Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân chủng Đặng Tính đã đi kiểm tra đơn vị. Ông giật mình thấy thời gian vào cấp 1 và thao tác của pháo thủ kéo dài quá sức tưởng tượng. Người nặng nề bởi áo giáp rơm pháo nặng nề bởi thêm các phụ kiện. Các pháo thủ thành thật báo cáo Chính ủy: Đội mũ rơm, mặc áo giáp rơm rất khó chịu. Nếu trận chiến kéo dài sẽ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe. Ông mặc thử áo rơm, đội mũ rơm, ngồi ghế số 1 quay hướng khẩu pháo đủ 3600.
Chính ủy đã dành một buổi trao đổi với ban chỉ huy các trung đoàn. Bỏ áo rơm và các phụ kiên pháo để vừa bảo đảm sức khỏe cho bộ đội chiến đấu lâu dài vừa không chậm chạp lỡ thời cơ diệt địch. Muốn vậy bộ đội phải tinh luyện, phải có phương án chiến đấu rõ ràng, xác định được hướng bắn, sẵn sàng chờ địch đến. Tiêu diệt địch là bảo vệ mình. Nhờ vậy tháng 10 năm đó, năm 1967, bộ đội phòng không Hà Nội liên tục đánh thắng các đợt công kích của máy bay Mỹ, bắn trúng, bắn rơi tại chỗ nhiều chiếc. Hãng UPI đã phải kêu lên: Lính phòng không Hà Nội được mùa bắn rơi máy bay Mỹ.
3. Cũng năm ấy, năm 1967, máy bay Mỹ giở thủ đoạn mới. Ngày 15-12-1967, bốn mươi tư lần chiếc máy bay Mỹ đánh cầu Đuống. Các tiểu đoàn hỏa lực SAM 2 của Trung đoàn 236 và 274 phóng 11 quả đạn vừa qua ngọn tre đã rơi xuống đất.
Ngày 16-12-1967, địch dùng 68 lần chiếc đánh khu vực Tổng kho Yên Viên, cầu Đuống. Các tiểu đoàn tên lửa phóng 5 quả đạn. Nhưng đạn mới bay khỏi ngọn tre làng lại mất điều khiển rơi xuống. Trong khi đó, Tiểu đoàn 67, Trung đoàn 275 ở Nghệ An phóng 2 quả SAM 2 bắn rơi 2 chiếc A6 của Hải quân Mỹ. Tại sao tên lửa Nghệ An đánh thắng; tên lửa Hà Nội đạn lại rơi? Tại sao? Tại sao? Chưa ai có thể trả lời.
Chính ủy kiêm Tư lệnh quân chủng Đặng Tính lệnh cho các trận địa tên lửa ngừng bắn. Ông cùng Phó tư lệnh tên lửa Hoàng Văn Khánh đến Tiểu đoàn 62, Trung đoàn 236 nghiên cứu.
Mặt khác ông chỉ thị cho chuyên gia kỹ thuật, kỹ sư lành nghề đến các tiểu đoàn kiểm tra, hiệu chỉnh đạn. Kiểm tra kỹ lưỡng lại tất cả số đạn đang trực chiến từ khâu sản xuất, lắp ráp đến tham số hiệu chỉnh kỹ thuật. Tất cả đều tốt. Vậy tại sao đạn mất điều khiển?
Có ý kiến cho rằng không quân địch đã thay đổi trang bị kỹ thuật. Vậy tại sao cùng thời gian Tiểu đoàn 67 ở Nghệ An vẫn bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Vậy thì con người ư? Có chủ quan. Có nhiễu tư tưởng không?
Bác Hồ gọi Chính ủy kiêm Tư lệnh quân chủng lên gặp. Người rất buồn, hỏi đồng chí Đặng Tính, tại sao đạn tên lửa mới quá ngọn tre đã rơi. Chính ủy báo cáo:
- Chúng cháu chưa tìm ra nguyên nhân ạ.
Bác hỏi:
- Đạn rơi vào làng xóm thì làm thế nào?
- Thưa Bác, chúng cháu đã cho cán bộ đến những nơi đạn rơi kiểm tra thiệt hại của nhân dân để đền bù thỏa đáng ạ.
- Dân chết các chú có đền được không?
Hai Bác cháu ngồi lặng, nước mắt chảy tràn trên má.
Trước lúc đồng chí Đặng Tính ra về, Bác dặn:
- Đừng vội kết luận. Phải bình tĩnh, tỉnh táo, tìm rõ nguyên nhân.
Ngày 19-12-1967, lúc 7 giờ 32 phút, máy bay Mỹ vào đánh Hà Nội. Trên màn hiện sóng đài điều khiển xuất hiện tín hiệu mục tiêu. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Bát chỉ thị mở máy thu rãnh đạn mà mấy hôm nay ông đã suy nghĩ, khoanh vùng và dừng lại ở khu vực rãnh đạn. Quả nhiên rãnh đạn có nhiễu. Một loại nhiễu lạ, lăn tăn, nhấp nháy sáng. Ông mừng quá, thầm reo: “Nguyên nhân đạn mất điều khiển ở đây rồi”. Ông cho bộ đội về cấp 2. Chính ủy kiêm Tư lệnh Đặng Tính lệnh cho tất cả các tiểu đoàn tên lửa tìm hiểu, nghiên cứu. Nhiễu tư tưởng của bộ đội tên lửa được giải tỏa. Thì ra chỉ những máy bay vào đánh khu vực Hà Nội mới có thiết bị gây nhiễu rãnh đạn.
Nhờ các chuyên gia Liên Xô và các kỹ thuật viên tên lửa Việt Nam tài giỏi, nhiễu rãnh đạn của tên lửa Hà Nội được khắc phục. Tên lửa Hà Nội lại “được mùa” bắn rơi máy bay Mỹ.
DƯƠNG DUY NGỮ