Tháng 6-1969, ông Hôm trong đội hình Tiểu đoàn Đặc công-Trinh sát 41 (Quân khu Tây Bắc) cơ động hành quân từ Sơn La xuôi về Nghệ An qua Cửa khẩu Nậm Cắn đến Xiêng Khoảng. Đường hành quân phải qua nhiều chặng đường nguy hiểm, bom địch đánh phá ác liệt, tiểu đoàn vừa hành quân vừa huấn luyện để tăng cường lực lượng tham gia giải phóng khu vực Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng. Sau thắng lợi tại khu vực Cánh Đồng Chum, đầu năm 1971, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân Giải phóng Lào tiếp tục chiến dịch tiêu diệt phỉ Vàng Pao ở khu vực Long Chẹng.

Căn cứ quân sự Long Chẹng được Mỹ xây dựng với âm mưu làm bàn đạp để uy hiếp thủ đô Viêng Chăn, phá thế liên minh chiến đấu của 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia. Tại đây, Mỹ đầu tư xây dựng sân bay quân sự, các công trình chiến đấu, trường huấn luyện sĩ quan, khu trại lính phỉ, lính Thái Lan… Nhiều lô cốt, trận địa kiên cố nằm san sát nhau. Chỉ huy căn cứ Long Chẹng là “vua Mèo” Vàng Pao. “Đại bản doanh” của Vàng Pao chính là ngôi biệt thự kiên cố, trên nóc máy bay trực thăng có thể hạ cánh được, dưới nền là hầm ngầm chứa súng đạn.

leftcenterrightdel
Ông Lò Văn Hôm (thứ hai, từ trái sang) kể lại chuyện chiến đấu ở Long Chẹng. Ảnh: TRUNG MINH.

Để đánh phá được Long Chẹng, lực lượng đặc công đảm nhiệm luồn sâu phá hủy các công trình quan trọng trong cứ điểm. Khi đó, đơn vị của ông Hôm được giao nhiệm vụ đánh phá trạm nước cắt đứt nguồn tiếp nước cho lính phỉ ở Long Chẹng. Tổ chiến đấu gồm ông Lò Văn Hôm và đồng chí Lò Văn Xó là người bản Tủm (xã Chiềng Khoi, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La). Ông Hôm nhớ lại: “Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi lên đường tiếp cận mục tiêu, trên người mang theo bộc phá, lựu đạn, súng AK cùng 3 băng đạn. Khu vực tháp nước được rào chắn cẩn thận bằng dây thép gai. Quân phỉ còn đặt mìn giăng khắp mọi nơi. Chúng tôi phải lợi dụng địa hình, địa vật mới có thể tiến sát được mục tiêu, chỉ một sơ suất nhỏ cũng dẫn đến thương vong”.

Sau khi đã thống nhất phương án tác chiến, tính toán kỹ đường tiến lui, hai người nhích từng chút một vượt qua những bãi vật cản có đầy bom bi do lính đánh thuê Thái Lan rải thảm. Luồn sâu vào mục tiêu, ông Hôm cùng đồng chí Xó đặt hai quả bộc phá để phá hủy trạm nước. Sau tiếng nổ rung trời, hai người nhanh chóng cơ động rút về phía sau. Địch tổ chức lực lượng truy bắt. Chúng bắn như vãi đạn ra các hướng nghi có quân ta. Quá trình cơ động không may đồng chí Lò Văn Xó bị thương ở cẳng chân. Chỉ còn lại một mình ông Hôm vừa phải tìm đường rút lui, vừa phải canh chừng địch phục kích. Ông Hôm cõng đồng đội trên lưng trườn xuống dưới chân núi, khi ấy trên người vẫn còn lủng lẳng súng ống, lựu đạn. Đang trong lúc rút lui thì có hai chiếc trực thăng bay vè vè tới để truy tìm. Ông Hôm ôm đồng đội lăn ngay vào bụi cây ẩn nấp. Bọn lính Thái Lan cùng lính phỉ từ trên cao đổ bộ xuống tiếp tục vây lấn sục sạo truy lùng gắt gao, vừa đi chúng vừa hô: “Bắt sống”, “bắt sống”, “không hàng là tiêu diệt”. Trước tình thế nguy cấp, ông Xó đề xuất: “Để tôi bắn tỉa từng tên một”. Ông Hôm ngăn lại: “Không được, nếu bắn tỉa sẽ bị lộ, chúng nó bắt sống”. Ông Hôm quyết định dùng khẩu B41 nhặt được trên đường để tiêu diệt địch. Súng đã lắp đạn. Khi thấy đội hình lính lùng sục hướng về phía mình, ông liền ngắm bắn rồi bóp cò. Cả toán lính nằm dạt xuống. Lợi dụng thời điểm đó, ông Hôm động viên đồng chí Xó: “Cố chịu đau nha!”, rồi cõng trên lưng, cứ thế lăn xuống dưới chân đồi.

Nghe tiếng nổ lớn nhưng không biết từ hướng nào, bọn lính kinh hồn bạt vía, không truy lùng nữa. Hai chiến sĩ đặc công cứ lăn theo sườn đồi và rơi vào một hủm cỏ tranh. Toàn thân hai người bị xây xát, đau nhức ê ẩm. Ông Hôm băng bó tạm cho đồng đội rồi tìm đường về đơn vị. Phải hai ngày sau, hai người mới liên lạc được với tiểu đoàn. Báo cáo lại toàn bộ quá trình chiến đấu, đơn vị đã biểu dương, khen ngợi tinh thần chiến đấu quả cảm của hai chiến sĩ. Sau chiến công đó, ông Hôm đã được vinh dự kết nạp Đảng ngay tại chiến trường nước bạn Lào. 

VŨ DUY