Đường ra trận

Năm 1959, 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tôi lên đường nhập ngũ, là chiến sĩ Sư đoàn 320, Quân khu 3. Mấy tháng sau, tôi được chuyển về đơn vị pháo cao xạ ở Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không-Không quân. Ngày đó, số anh em tốt nghiệp cấp hai chỉ đếm trên đầu ngón tay nên tôi được cấp trên cử đi đào tạo lớp sư phạm 10+3, trở về, làm giáo viên Toán, Lý từ lớp 5 đến lớp 7 ở Trung đoàn 230, Sư đoàn 367. Sau đó, tôi được cử đi đào tạo phóng viên ở Việt Nam Thông tấn xã (nay là Thông tấn xã Việt Nam). 

Trung tuần tháng 6-1965, chúng tôi được lệnh xuất phát đi B. Ngày nghỉ, đêm đi, xe phải dùng đèn gầm, chỉ chiếu lờ mờ một đoạn ngắn. Đêm nào cũng vậy, khắp trời vang tiếng máy bay, tiếng bom, tiếng súng phòng không. Đến miền tây Vĩnh Linh thì xe quay ra, chúng tôi bắt đầu vượt Trường Sơn bằng đôi chân mình.

leftcenterrightdel
CCB Nghiêm Hà kể chuyện tác nghiệp ở chiến trường. Ảnh: KHÁNH AN

Những ngày vượt Trường Sơn liên tục băng đèo, trèo núi, lội suối, vượt sông. Phóng viên ảnh Nguyễn Văn Năng ngã trẹo chân, phải ở lại trạm phẫu chạy chữa. Số tôi cũng không khá hơn, vượt qua một con đèo, trượt chân, một chiếc dép văng xuống vực, tôi phải leo dốc đá tai mèo bằng một chân trần. Mỗi bước chân là mỗi bước buốt đến tận gan ruột. May mắn, buổi tối đến trạm nghỉ, tôi xin được một chiếc dép. Ăn uống thì không thiếu gạo nhưng thức ăn chỉ có nước mắm cô đặc, ruốc thịt nhưng thịt ít mà muối thì nhiều...

Cứ như thế, sau 3 tháng hành quân, chúng tôi đã đặt chân lên miền đất Đông Nam Bộ. Tôi hân hoan nghĩ đã vào đến vùng đất “miền Đông gian lao mà anh dũng” đây rồi! Nhưng cũng nghe tiếng súng, tiếng pháo địch đổ dồn không xa. Các đồng chí ở Cục Chính trị Miền cho chúng tôi biết, địch đang mở cuộc hành quân lớn. Tuy vậy, không khí ở đây rất bình thản!

“Thử lửa” ở miền Đông

Đến “R” ở Đồng Xoài, tôi được phân công về B8-Điện ảnh Quân Giải phóng. Tại đây, chúng tôi được biên chế thành từng đội, mỗi đội gồm ba người, một quay phim chính, một phụ quay và một nhiếp ảnh. Chúng tôi thường bám sát các Phân khu 2, Phân khu 7 Rừng Sác-Lòng Tàu, theo mỗi bước tiến công của Sư đoàn 7, Sư đoàn 9...

Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, theo lệnh của trên, tổ chúng tôi gồm Trần Cần Kiệm (quay chính), Phùng Bất Diệt (phụ quay) và tôi-nhiếp ảnh phải theo sát các đơn vị biệt động đánh vào nội thành Sài Gòn. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ phối hợp với các đồng chí Thông tấn xã Giải phóng trong trường hợp biệt động ta bắt sống được bọn chóp bu tại Dinh Độc Lập thì phải đưa ngay tin bài, phim ảnh về sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn. Kế hoạch không thành. Chúng tôi lại chuyển hướng đi theo Trung đoàn 2, Sư đoàn 9 đang tiến vào Sài Gòn theo hướng tây nam qua Đức Hòa, Đức Huệ (thuộc Long An ngày nay). Nhưng trung đoàn bị địch phản kích quyết liệt, giữ chân tại An Ninh, Đức Hòa.

Cuộc chiến đấu càng lúc càng ác liệt. Anh em chiến đấu ngoan cường, quyết giữ từng tấc đất mình đứng chân, hai xe bọc thép địch bị bắn cháy. Trong công sự, thấy khung cảnh ấy, tôi liền nhảy lên, giơ máy ảnh bấm liên hồi. Máu nóng dồn lên hai thái dương, tôi nghĩ nhanh, chắc chắn cảnh xe tăng cháy và bộ binh địch co cụm đã được ống kính của tôi thu gọn. Chụp được mấy kiểu, tôi ngồi thụp xuống, định lăn qua bên trái để chụp thêm. Chợt một bàn tay túm lấy thắt lưng tôi-là đồng chí liên lạc của tiểu đoàn, anh hét to, giọng khẩn khoản: “Tiểu đoàn yêu cầu thủ trưởng về hầm ngay, nó đang gọi “pháo bầy” dập lại!”.

Tôi vội chạy theo anh. Về đến hầm, tôi mới tụt được nửa người vào trong, nước ngập quá đầu gối, tay trái bám vào kèo hầm chữ A, tay phải cầm máy ảnh giơ cao quá đầu thì một quả pháo nổ đanh tai ngay sau lưng. Một mảnh pháo văng cắt đứt nửa bàn tay phải, chiếc máy ảnh vỡ tan. Hai ngón tay rơi tại chỗ, ngón cái chưa đứt hẳn, còn đang lủng lẳng, từ chỗ đó máu túa ra thành hàng...

Sau đó, tôi cùng một số anh em bị thương được dân công hỏa tuyến đưa về Đội 6 phẫu thuật dã chiến của Bệnh viện K71. Hai tháng nằm lại trạm phẫu, tôi được chăm sóc hết sức chu đáo. Đặc biệt, bằng tấm lòng của một lương y, lại là học trò của tôi khi ở miền Bắc, bác sĩ Hán Văn Chí (quê Phú Thọ) đã cắt, gọt, gắp hết xương tay vụn để nối lại da, dùng thuốc tím rửa liên tục hàng tháng trời nhằm giữ hai ngón tay còn lại cho tôi. Sau này, tôi đã luyện tập để hai ngón tay còn lại hoạt động được bình thường, cùng tôi rong ruổi tác nghiệp trên những cung đường chiến trận...

(*) Ghi theo lời kể của CCB Nghiêm Hà, nguyên phóng viên Điện ảnh Quân Giải phóng

PHẠM THỦY (*)