Với thành tích ấy, anh đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và danh hiệu “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”.

Nhớ lại những năm tháng oanh liệt đó, Đại tá Phạm Thế Mỹ kể:

Tháng 9-1971, khi đang là sinh viên năm thứ hai Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, tôi tình nguyện lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, đơn vị tôi nhận lệnh hành quân vào chiến trường Quảng Trị. Khẩu đội ĐKZ 82 của tôi đảm nhiệm phối thuộc cùng lực lượng bộ binh tham gia chốt ở bắc Cửa Việt. Nói là khẩu đội nhưng quân số chỉ có tôi-pháo thủ số 1 kiêm Khẩu đội trưởng, đồng chí Huy-pháo thủ số 3, một chiến sĩ liên lạc và Trung đội trưởng Túc mới được tăng cường, đi cùng khẩu đội. Suốt một tuần chốt giữ trên đồi cát, thời tiết se lạnh, chúng tôi phải moi cát thành hố sâu để lấy nước nấu ăn. Hôm ấy là ngày 26-1-1973 (nhằm ngày 23 tháng Chạp âm lịch), khi chúng tôi chưa kịp ăn sáng thì nghe tiếng súng nổ. Bộ binh ta ở phía trước phát hiện địch tiến công nên đã tổ chức đánh chặn. Trung đội trưởng Túc hạ lệnh toàn khẩu đội ra vị trí chiến đấu. Cách chừng 2km, tôi thấy rất nhiều xe tăng, thiết giáp của địch đang tiến lại gần. Hỏa lực của chúng bắn mãnh liệt, tiếng súng của bộ binh ta yếu ớt, thưa dần… Chúng tôi đều hiểu, một trung đội bộ binh làm sao chống chọi nổi với “bầy cua sắt” nhan nhản có cả bộ binh cơ giới theo sau. Tôi tự nhủ trận đánh này chắc chắn mình hy sinh, bởi quân địch quá đông, lực lượng chốt của ta lại mỏng. Biết vậy nhưng chưa có lệnh rút về căn cứ nên tất cả vẫn kiên cường bám trụ. Mấy phút căng thẳng trôi qua, xe tăng địch mỗi lúc một gần, 900m… 700m…, tôi căng mắt nhìn qua kính ngắm, đưa đường tim chữ thập trùng vào chiếc xe tăng chính diện. Khi mục tiêu vào cự ly khoảng 400m, tôi quyết định siết cò. Sau tiếng nổ đanh gọn, chiếc xe tăng bốc cháy. Nhìn sang bên trái, tôi phát hiện một chiếc xe tăng nữa đang tiến vào. Đợi cho nó vào cách trận địa khoảng 300m, tôi hô: “Nạp đạn”. Đồng chí Huy pháo thủ số 3 lập tức thao tác. Tôi đưa điểm ngắm vào mục tiêu, tiếp tục bóp cò. Chiếc xe tăng địch nổ tan xác. Đội hình của chúng tản ra, khựng lại. Trung đội trưởng Túc cổ vũ: “Bình tĩnh, tiếp tục quan sát, địch hoảng loạn rồi”. Kiểm tra lại phần tử, tôi hạ lệnh “nạp đạn” sẵn sàng. Do chiến sĩ Huy là lính mới nên động tác chưa thật thành thạo, lại bị đất cát bắn lên buồng đạn nên phải lau vội để vỏ đạn không mắc kẹt. Thao tác xong, ngước nhìn lên, tôi giật mình vì chiếc xe thiết giáp của địch đã vào quá gần, cách trận địa chưa đầy 100m. Bọn bộ binh cơ giới hô nhau bắt sống chúng tôi. Tình thế vô cùng nguy cấp, đồng chí Huy tỏ ra hoang mang. Tôi trấn an: “Đừng sợ, chúng còn xa lắm!”. Nói vậy nhưng chính tôi cũng hơi lo lắng. Không kịp thời gian để lấy phần tử ngắm qua kính quang học, tôi chợt nhớ ra phương pháp ngắm bắn qua nòng mà Anh hùng LLVT nhân dân Phùng Văn Khầu đã từng vận dụng trong kháng chiến chống Pháp. Lập tức tôi thao tác ngay… Chiếc thiết giáp bốc cháy cách chúng tôi chừng vài chục mét. Bọn lính bộ binh chạy theo xe cũng bị thương vong. Đúng lúc đó, tôi bị sức ép của pháo địch hất văng khỏi công sự. Tôi lịm đi không hay biết gì… Lúc tỉnh dậy, tôi nghe loáng thoáng tiếng Trung đội trưởng Túc hô “rút lui”. Dù mặt mày choáng váng, máu tai rỉ ra, tôi vẫn nghe tiếng động cơ xe tăng địch tiến đến rất gần… Tôi loạng choạng men theo giao thông hào, rồi tìm đường tắt rút về nơi trú quân.

leftcenterrightdel
Đại tá Phạm Thế Mỹ (bên phải) kể lại trận đánh năm xưa. 

Ngay chiều hôm ấy, chiến sĩ Phạm Thế Mỹ được đơn vị chuyển sang trạm phẫu, đưa về bệnh viện tuyến sau điều trị. Ghi nhận thành tích của anh, cấp trên đã quyết định tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và danh hiệu “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”. Anh được nhiều đồng đội gọi vui là “truyền nhân” của Anh hùng Phùng Văn Khầu. Tham khảo lịch sử Trung đoàn 101, chúng tôi được biết thêm, trước trận đánh đó hai ngày, trong quá trình chi viện giữ chốt, pháo thủ số 1 Phạm Thế Mỹ phụ trách khẩu đội ĐKZ 82 đã bắn cháy một chiếc xe tăng địch cơ động vào thăm dò lực lượng ta đêm 24-1.

Sau khi vết thương lành hẳn, Phạm Thế Mỹ được cử đi học sĩ quan hỏa khí tại Trường Sĩ quan Lục quân 1. Ra trường, anh được điều về công tác tại đơn vị cũ, rồi chuyển sang Trung đoàn 2, Sư đoàn 8 (Quân khu 9), tham gia chiến đấu trên chiến trường Campuchia và nhanh chóng trưởng thành, đảm nhiệm các chức vụ quan trọng trong lực lượng Pháo binh miền Tây Nam Bộ cho tới khi nghỉ hưu, năm 2006. Anh nói vui: “Nếu phát đạn thứ ba hôm ấy không trúng mục tiêu thì chắc là tôi đã tan xương rồi, đâu có cơ hội để hôm nay ngồi đây tâm sự với các đồng chí kỷ niệm sâu sắc hồi chiến trường...”.

Bài và ảnh: THÀNH TUẤN