Trước năm 1945, Nguyễn Kiên Tranh đã ba lần bị giặc Pháp bắt và cầm tù vị tội chống nhà nước bảo hộ.

Tháng 3-1945 sau khi vượt ngục, Nguyễn Kiên Tranh về chùa Đông Thuần tỉnh Hải Dương và được một nhà sư thân quen cho một thẻ thuế thân và từ đó mang tên Nguyễn Văn Tuệ. Sau đó sư Tuệ về chùa Phương Mỹ, Hải Phòng gặp sư Lương Ngọc Trụ là bạn cùng hoạt động và được biết Nguyễn Bình cũng đang hoạt động ở Hải Phòng cùng sư Trụ. Vốn cùng chí hướng nên sau khi bàn tính, sư Trụ giới thiệu sư Tuệ về chùa Bắc Mã huyện Đông Triều để gây dựng lực lượng.

Tại Đông Triều, sư Tuệ đã được sư Võ Giác Thuyên (sư Nguyễn) và các nhà sư ở chùa Bắc Mã giúp đỡ tạo điều kiện xây dựng và phát triển Việt Minh. Dựa vào các nhà sư, sư Tuệ bắt tay ngay vào việc tuyên truyền đường lối cách mạng của Việt Minh. Tại một cuộc họp các chánh tổng và quan chức địa phương trong huyện, bàn việc chống phỉ cướp bóc, sư Tuệ đã kêu gọi những người có trách nhiệm ở địa phương nhanh chóng tổ chức lực lượng tự vệ ở các làng, xã. Sau sự kiện này, sư Tuệ có ảnh hưởng lớn đến tầng lớp thanh niên và những người có tinh thần cách mạng. Ban đầu, ông được những thanh niên có tinh thần yêu nước mời đến nói chuyện tình hình thế giới và trong nước. Về sau, những thanh niên này tổ chức đến chùa Bắc Mã nghe ông nói chuyện.

leftcenterrightdel
Sư Tuệ (ngoài cùng, bên trái) hồi ở Chiến khu Đông Triều, tháng 6-1945. Ảnh tư liệu 
Ông trực tiếp đến các gia đình có uy tín và giàu lòng yêu nước như bá hộ Mạc Văn Lít làng Hổ Lao, chí sĩ Trương Quốc Cẩn làng Yên Lâm, lý trưởng Nguyễn Văn Sinh làng Đạm Thủy... để vận động họ ủng hộ phong trào Việt Minh. Đây là cách vận động cách mạng hoàn toàn mới mẻ ở Đông Triều, thể hiện trình độ và uy tín của sư Tuệ. Điều đó chứng tỏ sư Tuệ đã nghiên cứu kỹ lưỡng về các chủ trương, đường lối đại đoàn kết dân tộc của Mặt trận Việt Minh.

Với cách vận động trên, sư Tuệ đã nhanh chóng xây dựng được lực lượng Việt Minh đông đảo ở các làng Bắc Mã, Hổ Lao, Đạm Thủy, Yên Lâm, Hà Lôi, Tràng Bảng, Xuân Viên, Mễ Xá, Triều Khê... Tại các làng này, phong trào Việt Minh đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, trong đó có các nhà hào lý, các nhà sư, đặc biệt là thanh niên. Nhiều làng thu hút được cả dòng họ lớn như họ Mạc ở Hổ Lao, cả 6 anh em ông Mạc Văn Lít đều tham gia Việt Minh.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, thực hiện chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ đã tích cực xúc tiến việc chuẩn bị các điều kiện để thành lập chiến khu cách mạng ở vùng Đông Bắc. Xứ ủy đã cử một số cán bộ về nằm vùng, mua sắm vũ khí và phát triển Việt Minh. Những chủ trương đó của Xứ ủy Bắc Kỳ đã ảnh hưởng to lớn đến phong trào cách mạng ở Đông Triều. Ngay sau thời gian sư Tuệ về Đông Triều xây dựng cơ sở, một số cán bộ của Đảng và Việt Minh đã đến Đông Triều nghiên cứu tình hình phát triển lực lượng Việt Minh cho phong trào cách mạng.

Cuối tháng 4-1945, tại chùa Bắc Mã đã diễn ra cuộc họp thống nhất các lực lượng trong huyện. Tham dự cuộc họp có sư Tuệ, Trần Cung, Hải Thanh, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bình. Cuộc họp đã bàn việc thành lập lực lượng vũ trang của huyện và việc phối hợp hoạt động giữa các địa bàn. Ngay sau đó, lực lượng vũ trang tập trung đầu tiên của Đông Triều đã được thành lập tại nhà bá hộ Mạc Văn Lít. Đội gồm 9 người, trong đó có hai cha con Trương Quốc Cẩn và Trương Quốc Dụng do Một Lộc làm đội trưởng, Trương Quốc Cẩn làm đội phó. Tất cả họ là những chiến sĩ tình nguyện vì sự nghiệp giải phóng quê hương đất nước. Vũ khí của đội gồm một khẩu súng ngắn và 8 khẩu súng trường.

Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, các điều kiện thuận lợi đã đến, ban lãnh đạo bắt tay vào việc chuẩn bị khởi nghĩa. Sư Tuệ và sư Nguyệt đảm nhiệm việc cung cấp lương thực cho nghĩa quân khởi nghĩa.

Tối 6-6-1945, ban lãnh đạo nghĩa quân đã họp buổi cuối cùng tại nhà Nguyễn Kim Ngọc, làng Đạm Thủy để quyết định kế hoạch khởi nghĩa. Cuộc họp thảo luận phương án tác chiến và phân công lực lượng. Đồn Đông Triều do Nguyễn Bình phụ trách, có Nguyễn Hiền làm nội ứng; đồn Tràng Bạch và mỏ Mạo Khê do Trần Cung phụ trách, có Nguyễn Văn Đài phối hợp, sư Tuệ được giao nhiệm vụ tước khí giới phủ lỵ Kinh Môn.

Ngày 8-6-1945, cuộc khởi nghĩa diễn ra đúng kế hoạch, ta đã làm chủ được huyện lỵ và một số khu vực khác, Chiến khu Đông Triều chính thức được thành lập ở sân đình làng Hổ Lao. Sau khi giành được những thắng lợi ban đầu, theo chỉ đạo của cấp trên, ban lãnh đạo chiến khu đã tập trung củng cố chính quyền, ổn định đời sống nhân dân. Đồng chí Trần Cung và sư Tuệ về các thôn, xã giúp địa phương tổ chức ra ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng cách mạng đã làm tan rã hầu hết bộ máy chính quyền của địch. Xã nào cũng mít tinh và tuyên bố giải tán chính quyền cũ, thu triện, vũ khí và tuyên bố lập chính quyền mới của nhân dân. Tới cuối tháng 6, ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời của huyện và xã đã được thành lập. Sư Tuệ được cử làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời đầu tiên của huyện.

UÔNG TRIỀU