Vốn quê gốc ở Bình Giang, Hải Dương, nhưng do chiến tranh loạn lạc nên gia đình chuyển lên Hà Nội, Lê Huy Đắc được sinh ra ở đây năm 1954. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ngày 13-9-1972, Lê Huy Đắc nhập ngũ và tham gia chiến đấu tại Mặt trận B4-Quân khu Trị Thiên-Huế. Và chuyến đi “đối mặt với tử thần” chỉ diễn ra sau đó gần một năm, mà đến giờ, sau hơn 40 năm ông vẫn nhớ như in.

“Tháng 4-1973, đang đóng quân ở xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, tôi được liên lạc đại đội đến thông báo về hầm chỉ huy đóng ở làng Thanh Tân, xã Phong Sơn. Khoảng 9 giờ hôm ấy, 4 chiến sĩ Đại đội 10 gồm tôi, anh Bùi Văn Ngọc (Giao Thủy, Nam Định), Hồ Quốc Thái (Nam Đàn, Nghệ An) và đồng chí Tiến (Đức Thọ, Hà Tĩnh) về đến đại đội bộ. Khi mọi người đã đông đủ, đồng chí Đỗ Báu-Chính trị viên đại đội nói: “Sáng mai, nhân Ngày Quốc tế Lao động, đại đội cử 2 đồng chí không mang vũ khí sang xóm bên cạnh, trao cho tụi lính Việt Nam cộng hòa bản Hiệp định Pari về Việt Nam và yêu cầu chúng không được lấn chiếm sang vùng giải phóng. Cấp trên có nhận định rằng, địch sẽ không ra và khả năng sẽ nổ súng. Nhiệm vụ này nguy hiểm nhưng cũng rất vẻ vang, mong các đồng chí sẵn sàng nhận”.

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Lê Huy Đắc (bên trái) và cựu chiến binh Bùi Văn Ngọc vui mừng gặp lại nhau sau gần 40 năm. Ảnh do nhân vật cung cấp. 

Sau một hồi suy nghĩ, đồng chí Ngọc và tôi nhìn nhau rồi gật đầu cùng giơ tay xung phong nhận nhiệm vụ. 2 đồng chí còn lại cũng xung phong đi, nhưng cuối cùng tôi và anh Ngọc được chọn. Thế là bắt đầu công tác chuẩn bị. Trưa hôm ấy, chúng tôi được ăn một bữa cơm thịnh soạn mà từ ngày vào chiến trường đến hôm đó mới có. Tại phòng chỉ huy, 2 cán bộ địch vận tập huấn cho chúng tôi một số việc như sau: Ăn mặc, tác phong đi đứng, học thuộc một số câu nói để khi sang đó vừa vẫy tay, vừa gọi địch... Gần tối, đồng chí cán bộ trung đoàn đưa chúng tôi đi xem qua trận địa bố trí tấn công địch, nếu chúng bội ước bắn chúng tôi. Chúng tôi không ai lo lắng, tin tưởng vào nhiệm vụ ngày mai và sẵn sàng đón nhận bất trắc. Hôm ấy, chúng tôi được một đêm ngủ ngon đầy giấc vì không phải gác, không phải phấp phỏng lo mất chốt như mọi đêm...

Sáng 1-5 năm ấy, một buổi sáng mùa hè trời trong xanh, lớt phớt vài mảnh mây trắng lửng lơ trôi trên đầu, mặt trời vàng rực vừa nhô lên. Lúc này, cả hai chúng tôi đều có chung một cảm giác bồi hồi khó tả. Đang đứng ngoài cửa hầm chỉ huy, anh Báu gọi chúng tôi vào và nói: “Trước khi đi, 2 đồng chí có nguyện vọng gì cứ nói, cứ đề nghị, có đồng chí cán bộ chính trị trung đoàn và 2 đồng chí cán bộ địch vận ở đây biết, để nếu các đồng chí hy sinh, đơn vị sẽ đề nghị cấp trên giải quyết chính sách”. Suy nghĩ một lát, chúng tôi đề nghị cho phép mang một quả lựu đạn cầu, bỏ vào túi quần, để phòng khi bắt tay rồi bị lôi tuột vào để bắt sống, lúc ấy, chúng tôi sẽ cho lựu đạn nổ tiêu diệt luôn quân địch. Anh Báu nói: “Việc ấy không lo, đơn vị đã chuẩn bị sẵn các tình huống, không để các đồng chí bị bắt. Chỉ cần các đồng chí sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ”.

Đưa chúng tôi đến vị trí chốt cuối cùng, đồng đội bắt tay chúng tôi lần cuối. Chỉ huy dặn: “2 đồng chí hãy bình tĩnh, mọi cử động cứ làm như đã tập huấn”. Lúc này, anh Báu bắt đầu dùng loa gọi sang phía địch thông báo người của Quân Giải phóng không mang vũ khí đã bắt đầu đi sang bắt tay nói chuyện hòa hợp dân tộc và trao bản Hiệp định Pari, đề nghị chúng cử người nhận về xem. Cùng tiếng loa yêu cầu đanh thép ấy là tiếng đồng đội hát bài “Việt Nam trên đường chúng ta đi”, chúng tôi ung dung bước về phía địch. Miệng luôn mỉm cười nắm tay nhau như 2 người bạn đi trên con đường làng vừa trò chuyện, vừa thưởng thức cánh đồng quê yên ả. Không ai trong chúng tôi nghĩ đến việc mình đang đi đến chỗ những họng súng đang sẵn sàng bắn chết mình. 

Đi được khoảng 100m, chúng tôi thấy lố nhố những mũ sắt, vai áo rằn ri của tụi ngụy ở giao thông hào tiền duyên của chúng. Có đến hàng trăm mũi súng đen ngòm. Chúng tôi đi đến đâu, chúng lia theo từng bước chân chúng tôi đến đó. Đến vị trí đã quy định, chúng tôi dừng lại, cả trăm mũi súng địch cũng dừng lại ngắm thẳng vào chúng tôi. Sau giao thông hào khoảng 2-3m có 2 tên rút 2 khẩu Côn giơ lên. Mặc kệ, chúng tôi bắt đầu gọi: “Hiệp định Pari về Việt Nam đã ký ngày 27-1-1973, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, quân đội Mỹ và các nước chư hầu phải rút khỏi nước ta. Chúng ta, hai bên đóng ở đâu thì nên giữ nguyên ở đó, không được bắn nhau, không được lấn chiếm đất của nhau, phải ngừng bắn. Các bạn hãy ra đây nói chuyện bắt tay hòa hợp dân tộc và nhận những hiệp định ngừng bắn về mà xem”.

Chúng tôi nghe thấy bọn chúng kéo khóa nòng lên đạn soàn soạt, lách tách và tiếng chửi bới đe dọa. Chúng tôi vẫn mỉm cười và tiếp tục tuyên truyền. Đứng gọi khoảng 10 phút, phía địch vẫn không ra. Phía ta gọi loa nhắc 2 chúng tôi hãy đi vào thêm 5m. Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, cùng bình tĩnh tiến thêm khoảng 5m, vẫn mỉm cười, dõng dạc nói lại những câu nói như đã tập trước. Đứng đợi khoảng 5 phút nữa, địch không ra và cũng không bắn. 15 phút chờ đợi, địch không có động thái gì, trên loa phía ta lệnh cho chúng tôi quay về và hẹn tụi địch hôm sau sẽ có người sang nữa. Hai chúng tôi ung dung quay về theo lối cũ.

Về đến đầu hào giao thông tiền duyên của ta, tự nhiên tôi thấy chân mình không chạm đất, người bị nhấc bổng lên không, tưởng mình đã bị bắn chết. Sau một thoáng bình tâm lại thì ra anh em xung kích Đại đội 10 ùa lên bế bổng 2 chúng tôi về hầm chỉ huy, 2 đồng chí địch vận thì lao ra ôm hôn khắp cả mặt, đầu, vai, lưng chúng tôi.

Hoàn thành nhiệm vụ, mấy ngày sau, chúng tôi chuyển vị trí hành quân về A Lưới. Đơn vị khác về thay vị trí Đại đội 10 ở làng Thanh Tân, xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Sau này, chúng tôi được biết, đơn vị tiếp quản và nhiều đơn vị khác của quân khu đã thực hiện chủ trương bắt tay hòa hợp được với địch. Hai bên đã tổ chức làm nhà hòa hợp dân tộc ở khoảng giữa hai bên, hằng ngày cử người ra gặp nhau nói chuyện và tổ chức chơi thể thao như: Bóng chuyền, cờ tướng…

Hòa bình lập lại, những người tham gia và biết đến sự kiện nói trên tản mát mỗi người một nơi. Mãi đến năm 2012, CCB Lê Huy Đắc thông qua sự giúp đỡ của các CCB Đại đội 10 mới gặp được đồng chí Bùi Văn Ngọc, hiện đang sống tại xóm 12, xã Hoành Sơn, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Hai con người đã vào sinh ra tử nơi chiến trường lại có dịp gặp nhau, nhớ lại chuyện cũ và kể cho con cháu nghe với niềm tự hào của những người lính một thời sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ, bất kể hiểm nguy và cái chết gần kề.

THANH HƯƠNG