Ngay trong “Lời nói đầu” của nhà xuất bản đã viết: “Tập phóng sự này tác giả viết từ cuối năm 1947 để kỷ niệm Chiến thắng Việt Bắc-Thu Đông... Song đến tận bây giờ tập phóng sự này mới xuất bản, thật là một khuyết điểm, vì thời gian tính của nó không còn, khi mà trên Đường số 4 trong suốt hai năm qua đã vang lừng bao nhiêu chiến công khác với bao nhiêu sự việc mới lạ, sôi nổi, đáng chú ý hơn nhiều. Đó cũng là điều tác giả thường băn khoăn”.

“Chặt gọng kìm Đường số 4” là tập sách gồm những tài liệu tác giả thu lượm được, đều mang đượm chất sống, linh hoạt của cuộc chiến thắng năm xưa, bởi vì chính tác giả đã làm nhiệm vụ một phóng viên mặt trận của các tờ báo Xông pha, Vệ quốc quân (một trong hai tiền thân của Báo Quân đội nhân dân), có hoàn cảnh đi liền với các đơn vị đánh giặc và tìm hiểu được sát mọi người, mọi việc. “Chặt gọng kìm Đường số 4” là tác phẩm viết về chiến thắng Đường số 4, viết về người chiến sĩ Vệ quốc quân. Tập phóng sự rất giàu tính thời sự chân thật, nhưng lại cũng thật sinh động. Đọc những đoạn thuần là ghi chép về các trận đánh, như trận đèo Bông Lau, trận Bản Chu, Bản Nghịu... ta như còn nghe thấy tiếng vang của sắt thép, tiếng chát chúa của đạn súng trường và như còn ngửi thấy mùi khói đạn. Đọc những đoạn ghi chép khác, thật ngắn thôi mà ta như thấy một con đường đang “quằn quại” bởi những “bầy quái vật” đang lồng lộn, và đó đây như còn thấy tiếng réo gào của lửa cùng máu lẫn trong hẻm núi, thấm vào đất đai quyện vào từng trang sách. Bằng mắt thấy tai nghe và bằng cả sự tìm hiểu sâu sắc chiến trường và kẻ địch, Hoàng Lộc đã ghi nhận được một cách chân thực những cuộc chiến đấu ngoan cường của quân và dân ta trên Mặt trận Đường số 4.

leftcenterrightdel
Nhà thơ Hoàng Lộc. Ảnh chụp tại Hà Nội trước khi tòng quân (năm 1946) do gia đình cung cấp. 

Viết về chiến tranh, Hoàng Lộc không dừng lại ở việc “tả trận”, ông luôn hướng ngòi bút của mình về phía con người, về phía những người lính.

Đọc “Chặt gọng kìm Đường số 4”, hình ảnh người chiến sĩ Vệ quốc quân năm xưa cứ hiện dần lên trên từng trang, từng trang. Đó là những nhân vật chính của cuốn sách. Là phóng viên chiến trường luôn “đi liền với các đơn vị đánh giặc và tìm hiểu được sát mọi người, mọi việc”, bằng lối viết linh hoạt, ngắn mà vẫn phóng khoáng, bằng cách sử dụng ngôn ngữ quần chúng, ngôn ngữ của người lính, tác giả đã dựng lại chân dung những người lính thời “9 năm”, những chàng “Vệ túm”, những người lính “áo nâu” thật điển hình; đồng thời nêu bật được những phẩm chất tốt đẹp của anh Bộ đội Cụ Hồ trong những ngày đầu xây dựng một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; những người lính mà đồng bào các dân tộc thiểu số ở Cao Bằng, Lạng Sơn vẫn quen gọi bằng những cái tên trìu mến: “Bộ đội ông Cụ”, “Bộ đội ông Ké”...

Đó là những người lính của nhân dân, là những người nông dân, công nhân và học sinh mặc áo lính. Hôm trước họ còn “da nâu rám vì những trận nắng choang choái giữa ruộng cày”, là những công nhân vùng mỏ than Hòn Gai, Cẩm Phả, là những học sinh một trường huyện, trường tỉnh nào đó. Hôm nay họ đã trở thành “những đồng chí đánh Tây” chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân. Trong lúc xung trận, họ tỏ ra gan góc, quả cảm, nhưng trong đời sống, họ thật là bình dị. Khó khăn, gian khổ của một quân đội trong những ngày đầu mới thành lập thật khôn tả. Thiếu thốn đủ thứ, gian nan vô cùng, vậy mà người chiến sĩ vẫn vui, vẫn tin tưởng ở ngày mai chiến thắng. Họ trao nhau chiếc điếu cày, nhường nhau củ sắn, cả một tổ ba người đắp chung một chiếc chăn bông cá nhân, áo trấn thủ may đủ “36 đường gian khổ”, mũ nan, chân không giày... mà “đời cứ tươi”. Họ nhặt nhạnh từng viên đạn địch để đánh địch. Người tù binh Đức bị bắt tại mặt trận nói về họ thế này: “Các ông gan góc lắm, các ông chịu được khổ! Chúng tôi chưa bao giờ thấy một người lính nào mà lại nhặt nhạnh, thu vén từng viên đạn như các ông” (“Chặt gọng kìm Đường số 4”, tr.26).

Thiếu thốn, gian nan, đói và rét nhưng họ, những chiến sĩ Vệ quốc quân lại là những người thấu hiểu hơn ai hết lời dạy của ông bà khi còn ở chốn quê “đói cho sạch, rách cho thơm”. Họ có thể hy sinh cả cuộc sống cho nhân dân nhưng khăng khăng đòi trả dân tiền một con gà (tr.26).

Cuộc sống trên điểm tựa chờ địch là cuộc sống của “những người ở hố” và “những ngày mưa họ nằm lẫn với nước và bèo, thở hơi đất vừa nồng vừa chua, khát thì gạn nước hố mà uống” (tr.29). Đó là cuộc sống của những đội viên ở vị trí chiến đấu, còn người liên lạc thì “phải bò qua những vũng máu đen sì và những bãi cháy còn nóng” (tr.12)... Gian khổ là thế, hy sinh là thế nhưng họ cũng là những người “ham nghiên cứu chính trị”, khao khát chiến đấu náo nức lập công và những khi rỗi rãi thì “tếu chẳng ai bằng”.

Với tinh thần ấy, họ đã làm nên những chiến thắng vang dội, chặt đứt “gọng kìm Đường số 4” của địch, giải phóng nhân dân, được nhân dân các dân tộc thiểu số đặt cho cái tên vinh dự: “Chiến sĩ Bông Lau”.

leftcenterrightdel
 Bìa cuốn “Chặt gọng kìm Đường số 4” (Nxb Vệ quốc quân, 1950).

Giá trị của “Chặt gọng kìm Đường số 4” nằm chính ở những trang viết về người lính. Cùng với giá trị chân thực, giá trị thông tấn, những trang viết về người lính đã căn bản làm nên sức sống của tác phẩm. Và, có thể nói, cùng với những “Nhớ máu”, “Tình sông núi” của Trần Mai Ninh, “Một lần tới Thủ đô”, “Trận Phố Ràng” của Trần Đăng..., “Chặt gọng kìm Đường số 4” trong đó có bài thơ “Viếng bạn” của Hoàng Lộc đã trở thành một trong những tác phẩm đầu tiên viết về anh bộ đội, viết về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính. Giá trị của “Chặt gọng kìm Đường số 4” ngay từ khi ra mắt bạn đọc đã được đánh giá rất cao. Tác phẩm này của Hoàng Lộc “tuy cũ, nhưng sẽ góp phần với những sáng tác khác để có thể phản ánh được hết Mặt trận Đường số 4 với suốt thời gian chiến tranh, bởi vì riêng Thu Đông 1947 đã không có một sáng tác văn chương nào có giá trị tương đối bằng tập phóng sự của Hoàng Lộc”. Đó là lời nhận xét của Nhà xuất bản Vệ quốc quân khi xuất bản tác phẩm này (“Lời nói đầu” của nhà xuất bản trong tập “Chặt gọng kìm Đường số 4” của Hoàng Lộc xuất bản năm 1950).

Nhà thơ Hoàng Lộc trước khi vào bộ đội, trước khi có “Chặt gọng kìm Đường số 4” đã là một thi sĩ có in ít nhất hai tập thơ. Nhưng theo sự tìm hiểu của chúng tôi thì kể từ sau khi nhập ngũ, sáng tác thơ mà ông để lại đến hôm nay chỉ có bài “Viếng bạn”. Bài “Viếng bạn” được in trong phần II, mục XVII có tên “Một bài thơ khóc bạn”, ở trang 66 của tập “Chặt gọng kìm Đường số 4” xuất bản lần đầu.

Bảy mươi năm (1947-2017) đã đi qua từ Chiến thắng Việt Bắc-Thu Đông năm ấy, nhưng như còn vang vọng tiếng súng, tiếng thét xung phong trong “Chặt gọng kìm Đường số 4”, cùng tiếng nấc nghẹn căm hờn trong “Viếng bạn” vẫn còn như văng vẳng đâu đây. Đọc lại những sáng tác của Hoàng Lộc, người đọc hôm nay không nguôi nỗi nhớ về ông. Nhớ một thanh niên Hà Nội rất thư sinh; nhớ một nhà thơ trẻ đa cảm; nhớ một anh Vệ quốc quân mũ sắt, áo trấn thủ “36 đường gian khổ”; nhớ một đồng chí “nhà báo với chiếc ba lô chiến lợi phẩm, chiếc máy ảnh cũ kỹ”; nhớ một ngòi bút-chiến sĩ đã sống cuộc đời chiến sĩ, vì chiến sĩ mà viết, viết cho chiến sĩ, viết về kháng chiến, viết cho nhân dân.

Cuộc đời chiến đấu, cuộc đời cầm bút của Hoàng Lộc không dài, vẻn vẹn chưa đầy ba năm, và ông mất khi tuổi đời còn rất trẻ-chưa đầy 30 tuổi (1922-1949), nhưng Hoàng Lộc đã nêu một tấm gương sáng cho mỗi người cầm bút. Cùng với Trần Mai Ninh, Thâm Tâm, Thôi Hữa, Trần Đăng... Những “văn nghệ binh thứ nhất hy sinh nơi chiến trường”, tên tuổi và tác phẩm của Hoàng Lộc gắn liền với văn thơ kháng chiến, gắn liền với văn thơ viết về Bộ đội Cụ Hồ.

NGÔ VĨNH BÌNH