Giai đoạn 1968-1972, Khu ủy Khu 5 phải di chuyển liên tục, có khi một tháng đến 4-5 lần, làm nhà lá chưa kịp khô đã phải di dời đi nơi khác. Tất nhiên, tòa soạn gọn nhẹ của Báo Cờ Giải Phóng do tôi phụ trách luôn bám sát cơ quan cấp trên để nắm chủ trương, đường hướng tuyên truyền. Khu ủy đã đóng ở những nơi như: Tây Giang, Phước Sơn (Quảng Nam); Đăk Glei (Kon Tum); Sơn Hà, Trà Bồng (Quảng Ngãi), địa điểm cuối cùng trước ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là Trà My (Quảng Nam). Quảng Nam chính là quê hương của anh Hồ Nghinh.

Tôi được gặp anh Hồ Nghinh lần đầu vào năm 1968 trong một cuộc họp ở căn cứ, lúc đó anh là Khu ủy viên, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà (nay thuộc tỉnh Quảng Nam và TP Đà Nẵng). Đó là một người tầm thước, khuôn mặt vuông vức, phúc hậu, nụ cười hiền lành, giọng nói nhỏ nhẹ, tác phong nhanh nhẹn. Anh hơn tôi đến 15 tuổi, lại là cán bộ cao cấp đứng đầu một tỉnh nên tôi ít gặp. Nhưng những chuyện mọi người trong căn cứ truyền tụng về sự dũng cảm bám dân, bám đất, những suy nghĩ sâu xa của anh, khiến tôi hết sức khâm phục.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chiến trường Khu 5 càng trở nên ác liệt. Địch thực hiện cùng một lúc việc ngăn chặn tiếp tế của miền Bắc thông qua các chiến dịch tìm diệt. Ác liệt nhất là ở Quảng Đà, một chiến trường trọng điểm của Khu 5. Giữa lúc nóng bỏng như vậy, Tỉnh ủy Quảng Đà, mà cụ thể là Bí thư Hồ Nghinh đã đưa ra chủ trương: Đưa bộ phận thường trực của Thường vụ Tỉnh ủy về đứng chân ngay giữa Gò Nổi, là vùng đang bị địch đánh phá khốc liệt ngày đêm. Lúc đó có người không đồng tình với chủ trương này, cho rằng nếu đưa bộ phận đầu não của Đảng về đây thì quá phiêu lưu, lãnh đạo bị diệt thì phong trào cũng mất. Với tư cách người đứng đầu Đảng bộ, Bí thư Hồ Nghinh trả lời: “Đúng là về đứng giữa Gò Nổi đang bị đánh phá dữ dội như hiện nay thì chưa chắc đã chỉ đạo được gì cụ thể đâu. Nhưng chỉ đạo quan trọng, hiệu quả nhất lúc này là sự có mặt của mình tại chỗ. Tôi là Bí thư Tỉnh ủy đứng ngay giữa Gò Nổi, ác liệt tới mấy cũng không bí thư huyện ủy nào dám bỏ huyện của mình mà chạy. Bí thư huyện ủy còn bám trụ trong huyện thì không bí thư xã nào dám bỏ xã. Bí thư xã còn bám, sẽ không đảng viên nào bỏ dân ở từng thôn, ấp. Đảng viên trong thôn, ấp còn trụ lại thì dân sẽ trụ lại, địa bàn sẽ còn, phong trào sẽ còn. Đấy là việc quan trọng nhất cần làm lúc này”. Nói là làm, Bí thư Hồ Nghinh đã bí mật về Gò Nổi cùng với bộ phận đầu não lãnh đạo tỉnh trong suốt thời kỳ thử thách ghê gớm đó. Cuối cùng, Quảng Đà đã trụ vững trước mọi sự đánh phá ác liệt của kẻ thù.

leftcenterrightdel

Đồng chí Hồ Nghinh trong những ngày ở chiến khu.  

Tôi còn được biết một câu chuyện khác, vào thời gian cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ngày đó, ở Quảng Nam có tên Lê Phước Lý, đứng đầu tổ chức Quốc dân đảng, có mối thù sâu với cách mạng. Lúc đó, hắn đã ngoài 60 tuổi, bị ta bắt lần này là lần thứ hai. Nghĩ chết là cái chắc, như con chó cùng đường cắn giậu, bị trói giật cánh khuỷu, mồm hắn vẫn không ngớt chửi rủa. Nhiều anh em căm lắm, muốn khử ngay. Nhưng anh Hồ Nghinh sau khi đã vạch mọi tội tên ác ôn trước mọi người, anh có một quyết định rất bất ngờ là phóng thích hắn. Khi nghe lệnh thả, tên ác ôn há hốc mồm kinh ngạc, hắn bỗng sụp xuống lạy như tế sao và khóc nức nở như trẻ con. Nhiều đồng chí có mặt ở đấy cũng ngạc nhiên, tuy vẫn còn tỏ ý không đồng tình với Bí thư. Anh Hồ Nghinh nhìn mọi người, ôn tồn nói: “Đúng là tội ác của tên Lý tày đình. Nhưng hắn đã già. Hãy rộng lượng cho hắn được chết bằng cái chết già đang đến”. Tính nhân văn trong con người của anh thật sâu sắc biết bao. Anh không muốn con cháu của hắn sau này mang một vết nhơ có người thân là “Việt gian bị tử hình”.

Sau ngày nước nhà thống nhất, tôi làm đại diện Báo Nhân Dân ở miền Trung mới có nhiều dịp được trực tiếp tiếp xúc với Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng. Thời bình, anh Hồ Nghinh vẫn giữ được tác phong của thời chiến là sự giản dị, luôn đi sâu, đi sát, lắng nghe ý kiến nhân dân và cán bộ cấp dưới. Ngay sau giải phóng, anh có chủ trương: Di dời mồ mả ở các vùng đất màu mỡ thuộc các huyện: Điện Bàn, Duy Xuyên, Hòa Vang, Đại Lộc... đưa lên an táng tập trung ở các vùng đất ven đồi cát, gò cao để giải phóng đồng ruộng. Đây là một chủ trương rất táo bạo, động đến một phong tục tập quán nhiều đời nên lúc đầu có người phản đối, kể cả một số bậc lão thành, cán bộ đương chức trung, cao cấp. Bản thân tôi muốn viết bài tán thành chủ trương này nhưng cũng sợ va chạm nên nấn ná. Nhưng Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng, đứng đầu là Bí thư Hồ Nghinh đã làm cương quyết, sau khi giải thích, vận động để được sự đồng thuận của nhân dân, hàng nghìn mồ mả đã di dời ngay, giải phóng hàng trăm héc-ta đất canh tác. Những sự phản đối cũng yếu dần theo thời gian vì họ đã thấy việc di dời là hợp tình hợp lý. Đến tháng 4-1977, tôi mới có bài trên Báo Nhân Dân: “Một biện pháp giải phóng đồng ruộng”, chỉ là góp một tiếng nói muộn màng...

Anh Hồ Nghinh làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà rồi Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng liên tục trong 19 năm (1963-1982). Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, anh được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng, được điều ra Hà Nội làm Phó trưởng ban Kinh tế Trung ương. Ngày đó, tôi được nghe ý kiến của một số người cho rằng “Hồ Nghinh là tay kinh tế thị trường”, ngầm ý cho anh hữu khuynh, sai lầm. Thực tế thì có một số ý kiến mà anh đề xuất về phát huy yếu tố thị trường, làm kinh tế năng động, buổi đầu còn có hoài nghi. Rồi mọi việc đã rõ như ban ngày, công cuộc mở cửa, đổi mới, thực thi kinh tế thị trường những năm qua đã đạt được nhiều thành quả to lớn. Một lần được gặp anh, tôi mượn ý câu tả vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân của cụ Nguyễn Du, nói vui: “Anh Hồ Nghinh ạ, anh là Nho cốt cách, Mác tinh thần...”.

Năm 2006, khi anh Hồ Nghinh đã nghỉ hưu một thời gian, anh được Đảng, Nhà nước trao tặng phần thưởng cao quý nhất: Huân chương Sao Vàng. Anh mất ngày 16-3-2007, hưởng thọ 94 tuổi. Tên anh được đặt cho một đại lộ của thành phố Đà Nẵng. 

Tôi là Bí thư Tỉnh ủy đứng ngay giữa Gò Nổi, ác liệt tới mấy cũng không bí thư huyện ủy nào dám bỏ huyện của mình mà chạy. Bí thư huyện ủy còn bám trụ trong huyện thì không bí thư xã nào dám bỏ xã. Bí thư xã còn bám, sẽ không đảng viên nào bỏ dân ở từng thôn, ấp. Đảng viên trong thôn, ấp còn trụ lại thì dân sẽ trụ lại, địa bàn sẽ còn, phong trào sẽ còn.

HỒ NGHINH

PHẠM QUANG ĐẨU