Năm 20 tuổi, Đặng Kinh có vóc dáng cao to, gương mặt hơi dài, mái tóc bổ luống cùng đôi mắt sáng tuấn tú. Vì nhà nghèo, chàng thanh niên ấy tạm rời vùng đất An Lão, tỉnh Kiến An (nay là TP Hải Phòng) theo bố ra Quảng Ninh làm thợ đội than. Cuộc sống gánh thuyền, xúc đất vất vả là thế, nhưng bản tính yêu ca hát trong ông chưa bao giờ tắt. Điệu hát đúm cùng mấy câu dân ca nghêu ngao chính là phương thuốc tinh thần giúp Đặng Kinh nguôi đi những mệt nhọc thường ngày.

Đến khi trở lại quê nhà, vùng đất ấy đã vang vọng những giai điệu của “Tiến quân ca”, “Diệt phát xít”... Vốn mê âm nhạc, Đặng Kinh thuộc lòng rất nhanh. Những bài ca ấy đã thắp lửa cho ông dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng, rồi trở thành cán bộ lãnh đạo của đơn vị thanh niên khởi nghĩa. Đến khi làm Tỉnh đội trưởng Kiến An, ông tích lũy cho mình “vốn liếng” bài hát phong phú. Tất cả chỉ là học truyền khẩu, nhưng nhờ có khiếu âm nhạc và trí nhớ tốt, bài nào ông cũng thuộc. Hành quân ông cũng hát, giữa vùng tề, sau khi phổ biến xong nhiệm vụ cho anh em, ông lại làm “quản ca” tại chỗ, bắt nhịp cho bộ đội hát vang một bài ca rồi mới lên đường đánh Tây, diệt tề.

leftcenterrightdel
 Đồng chí Đặng Kinh và vợ trong thập niên 1950. Ảnh tư liệu

Anh em chiến sĩ trong đơn vị rất khâm phục tài ca hát của Đặng Kinh, nhưng ít ai biết rằng ông từng trải qua một tuần “tập huấn” âm nhạc vô cùng đặc biệt. Đó là khi ông cùng nhạc sĩ Đỗ Nhuận bị giam trong nhà giam của Quốc dân Đảng tại Hà Nội. Trước sự đấu tranh của lực lượng cách mạng tại Hà Nội, chúng buộc phải thả nhạc sĩ Đỗ Nhuận ra. Đặng Kinh và một số tù nhân khác sau đó cũng tìm cách trốn thoát thành công. Dù ngắn ngủi, “vốn liếng” bài hát mà Đỗ Nhuận truyền lại, từ những ca khúc sáng tác ở nhà tù Sơn La cho đến các giai điệu học được trước đó cũng thừa sức để “tập huấn” trọn một tuần cho Đặng Kinh. Vốn sẵn giọng hát hay lại học thêm nhiều bài mới, Đặng Kinh càng thêm say mê âm nhạc.

Suốt một thời gian dài hoạt động sâu trong lòng địch, Đặng Kinh đã sáng tạo ra nhiều cách đánh giặc biến hóa muôn hình vạn trạng. Những toán lính địch tự hào căn cứ của chúng là bất khả xâm phạm và không một ai có thể lọt qua mắt. Thế nhưng, chỉ bằng một số phương án tác chiến mưu trí chỉ đạo cho anh chị em, kèm theo vài quả lựu đạn hay mìn tự tạo thả đúng vào “sào huyệt”, Đặng Kinh đã khiến chúng mặt xanh như tàu lá chuối. Khắp vùng đất Kiến An khi ấy, quân Tây sống không yên ổn, lúc nào cũng hò hét, hậm hực đòi tìm diệt để báo thù bằng được “mấy thằng nhãi ranh du kích Việt Minh” của Đặng Kinh.

Khi quân địch đem quân đánh Lạng Đông, Tỉnh đội trưởng Đặng Kinh lại đang ở Lạng Tây thuộc Cổ Lễ, Nam Định trước đây. Nhiều lần, ở nhiều nơi, bọn chúng đưa quân bủa vây quyết cho quân của Đặng Kinh sa lưới, nhưng chẳng bắt được ai. Sự thật là nhân dân đã tìm cách làm cho chúng không thể tiến vào vùng Đông Nam của tỉnh Thái Bình trước đây.

Sau thời gian dài nghiên cứu chiến trường, Đặng Kinh quyết định tập kích sân bay Cát Bi. Dù vậy, không dưới 3 lần phương án bị đồng chí Ngạn (bí danh của đồng chí Đỗ Mười) từ chối phê duyệt vì nhiều vướng mắc chưa được giải quyết. Chỉ đến khi phương án cuối cùng đạt độ tối ưu và khả dĩ nhất, đồng chí Ngạn mới gật đầu đồng ý.

leftcenterrightdel
 Trung tướng Đặng Kinh giới thiệu các kỷ vật kháng chiến của mình. Ảnh do tác giả cung cấp

Khi trở về quê hương Kiến An, Đặng Kinh lập tức phổ biến nhiệm vụ cho đơn vị. Ông bắt nhịp cho tất cả cùng hát vang bài “Vì nhân dân quên mình”. Rạng sáng 6-3-1954, khi 32 đồng chí vượt sông tiến thẳng vào sân bay Cát Bi, để giải tỏa sự căng thẳng, Đặng Kinh hút điếu thuốc lào, mắt nhìn theo bóng đồng đội khuất dần trong đêm tối hướng về phía Cát Bi, miệng lẩm bẩm giai điệu quen thuộc: “Mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng...”. Từ những trận đánh trước đó cho đến chiến công lịch sử tại Cát Bi, “ca sĩ” Đặng Kinh đã sử dụng gần như trọn vẹn “vốn liếng” âm nhạc mà nhạc sĩ Đỗ Nhuận từng hướng dẫn ông.

Năm 1995, nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng Hải Phòng, trên cương vị Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố, Trung tướng Đặng Kinh đã phối hợp với Thành đoàn Hải Phòng tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về dự. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa kết thúc bài phát biểu và bước xuống khán phòng, màn hợp xướng của gần 200 thanh thiếu niên vang lên đầy tự hào. Sau khi tốp ca vừa kết thúc, Trung tướng Đặng Kinh từ dưới khán phòng bước lên sân khấu, hòa mình vào dàn hợp xướng lớn. Ông cất giọng lĩnh xướng “Trường ca Sông Lô”: “Sông Lô, sóng ngàn Việt Bắc, bãi dài ngô lau, núi rừng âm u...”. Chất giọng của Trung tướng Đặng Kinh hôm ấy thăng hoa, trong trẻo và chuẩn xác đến lạ kỳ. Nhìn người Anh cả của Quân đội ngồi phía dưới, vị Trung tướng càng thêm tự tin thể hiện.

Với nhạc sĩ Trần Hoàn, nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin, mối duyên âm nhạc giữa ông và Đặng Kinh đã được thử thách qua những ngày Huế rực lửa mùa xuân Mậu Thân 1968, khi cả hai chung một chiến hào. Trong hội nghị tổng kết đánh giá mức độ thắng lợi của chiến dịch, nơi Đặng Kinh giữ vai trò rất tích cực, Trần Hoàn cũng có mặt. Lần đó, Đặng Kinh đã hát tặng Trần Hoàn bài “Sơn nữ ca”, không quên nhấn nhá câu hát ông tâm đắc nhất: “Một đêm trong rừng vắng, có cô sơn nữ miệng cười khúc khích, ngắm anh du kích mà lòng bâng khuâng...”. Tại hội trường ở Hải Phòng năm 1995 hôm ấy, đồng chí Trần Hoàn ngồi chung hàng ghế đầu với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng Võ Nguyên Giáp mỉm cười hỏi Trần Hoàn: “Sao anh lại đổi chữ “lữ khách” thành “du kích” thế?”. Trần Hoàn cười giải thích: “Báo cáo anh, không phải tôi đâu ạ, mà anh chị em khi biểu diễn tự đổi cho hợp thời đấy chứ!”. Trung tướng Đặng Kinh liền nói: “Thưa, có lẽ chỉ tại tôi là tướng du kích nên mới nặng lòng với hai từ ấy đến thế thôi ạ!”.

Nhiều năm sau, trong một lần Trung tướng Đặng Kinh ra Hà Nội, đồng chí Trần Hoàn đã mời ông đến nhà riêng ở khu Vạn Bảo để đàm đạo. Ông còn mời hàng xóm là nhạc sĩ Phạm Tuyên sang. Đồng chí Trần Hoàn hóm hỉnh đùa: “Giới nghệ sĩ chúng tôi nhạy bén lắm chứ. Giới thiệu với ông Tuyên, ông Kinh không chỉ đánh giặc rất hăng, rất giỏi mà còn là nhân vật chính trong tiểu thuyết “Huế mùa mai đỏ” của nhà văn Xuân Thiều. Thời Mậu Thân 1968, khi tất cả đã tính đến chuyện rút quân, Đặng Kinh vẫn quyết đoán xin đánh tiếp để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc tế. Quyết tâm ấy được cả 3 đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và Song Hào ký duyệt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn báo sẽ chi viện thêm cho Huế một sư đoàn”. Tướng Đặng Kinh nghe vậy bèn xua tay, nhắc lại lời mình đã báo cáo thật lòng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm xưa: “Anh ạ, tôi chỉ quen đánh du kích thôi. Nếu anh cho thêm một sư đoàn tinh nhuệ nữa, tôi e chẳng biết chỉ huy thế nào, mà thực tình lúc ấy cũng không biết lấy gì cho cả một sư đoàn ăn nữa cơ”.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên bày tỏ lòng khâm phục trước sự bộc trực và thực tế của vị tướng dạn dày sương gió. Trung tướng Đặng Kinh lại có chút e ngại khi những kỷ niệm chiến trường năm xưa ở mặt trận Huế rực lửa giờ đây lại mang ra “vinh danh” trước mặt đồng nghiệp. Để “chữa ngại”, ông lấy bản nhạc trên tay đồng chí Trần Hoàn. Mọi người trong phòng cùng hòa giọng cất cao bài hát đầy hùng hồn, nhịp nhàng theo nhịp bước. Nhưng vang rộn và ấm áp nhất vẫn là chất giọng thăng hoa của Trung tướng Đặng Kinh-tiếng hát cất lên từ tâm hồn một vị tướng du kích, vang xa mãi trong không gian ấm cúng giữa hai ngôi nhà của hai nhạc sĩ Trần Hoàn và Phạm Tuyên.

CHÂU LA VIỆT