Bà Nguyễn Thị Kỳ tên thật là Cái Thị Tám, quê ở Lương Yên (Hà Nội), trong một gia đình nhà nho nghèo đông con. 17 tuổi, bà thoát ly theo cách mạng, làm công tác binh vận ở các tỉnh phía Bắc và được kết nạp Đảng năm 1944.
Trung tuần tháng 3-1945, bà được Tổng Bí thư Trường Chinh giao thực hiện chuyến giao liên vào Sài Gòn tìm Xứ ủy Nam Kỳ, trao thư, tài liệu và đặt mối liên lạc vững chắc với Trung ương. Theo lời kể của bà, khi giao nhiệm vụ, đồng chí Trường Chinh nêu rõ công tác trọng tâm của Đảng lúc đó là gấp rút chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến.
Điều lo lắng của Trung ương bấy giờ là chưa nắm được cụ thể tình hình của Đảng bộ Nam Kỳ. Trung ương cũng có một khó khăn lớn là không có địa chỉ thật rõ ràng, chính xác để liên lạc với Đảng bộ Nam Kỳ. Đó là một nhân mối ở tiệm làm giày trên đường Catinat, Sài Gòn (nay là đường Đồng Khởi, TP Hồ Chí Minh).
“Thế nhưng thực tế, Catinat là một phố buôn bán lớn, sang, đẹp vào bậc nhất ở Sài Gòn ngày ấy, chỉ có các tiệm buôn, khách sạn lớn, chứ không có tiệm đóng giày thủ công nào cả. Sau khi cách mạng thành công, tôi hỏi lại thì biết người mà đồng chí Trường Chinh nói đến để tìm ra Xứ ủy là đồng chí Nguyễn Oanh, Xứ ủy viên, làm thợ đóng giày chứ không phải chủ tiệm giày, mà tiệm giày cũng không phải ở đường Catinat”-bà Nguyễn Thị Kỳ cho biết.
Đây là chuyến vào Sài Gòn đầu tiên của nữ giao liên Cái Thị Tám với nhiều bỡ ngỡ nhưng cũng tràn đầy quyết tâm. Trước Tổng Bí thư Trường Chinh, bà hứa nếu sa vào tay giặc thì thà chết chứ không khai báo làm lộ bí mật của Đảng.
Về chuyến đi này, bà Kỳ thuật lại khá chi tiết trong hồi ký. Bà kể: “Ngày 5-4-1945, tôi được anh Trường Chinh hẹn gặp lần cuối trước khi lên đường. Anh cho hay, tôi sẽ cùng vào Sài Gòn với anh Lý Chính Thắng do Xứ ủy phái ra gặp Trung ương, nay quay trở về. Tôi rất mừng vì như vậy đã không còn khó khăn về địa chỉ liên lạc ở Sài Gòn. Đang nói chuyện công tác thì chồng tôi-anh Văn Tiến Dũng đến. Anh Trường Chinh để chúng tôi gặp riêng. Tôi vui mừng, xúc động đến sững sờ được gặp chồng sau thời gian dài xa cách. Chúng tôi kể cho nhau nghe chuyện vui buồn trong những ngày đợi chờ, thương nhớ và tin tưởng. Phút gặp gỡ ấy thật ngắn ngủi. Công tác không cho phép chúng tôi ngồi lâu với nhau để được tâm sự trọn một buổi, để ăn với nhau một bữa cơm. Chúng tôi chia tay. Anh đi ngay lên chiến khu dự Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do Trung ương triệu tập.
Hôm ấy, tàu trên đường vào Tourane (nay là Đà Nẵng), tôi ngồi cạnh anh Lý Chính Thắng. Bỗng một tên đội Nhật người nồng nặc mùi rượu mò đến ngồi sát bên cạnh. Mặc dù tôi đóng vai vợ anh Thắng, chụm đầu rầm rì nói chuyện với anh, hắn vẫn trắng trợn ngồi ép sát, ngang ngược kéo tay sàm sỡ tôi. Sau mấy lần gạt tay hắn ra không được, tôi không nén nổi căm tức, hất tay rồi vùng đứng lên. Anh Thắng biết tiếng Anh, cũng lên tiếng phản đối. Thế là xảy ra chuyện gay go. Tên này một tay nắm đốc kiếm, một tay lôi kéo tôi. Anh Thắng buộc phải làm ầm lên, kéo tôi lại. Thấy ồn ào, mấy tên Nhật khác đi kiểm tra tàu cũng xô đến. Ngôn ngữ bất đồng, chúng tôi không hiểu tên đội Nhật nói gì với đồng bọn, vu cáo cho tôi chuyện gì. Chỉ biết tàu vừa đến ga Tourane, tên đội Nhật nhất định đuổi tôi xuống, giao cho bọn hiến binh đóng ở ga. Sự việc diễn ra bất ngờ, tôi và anh Thắng bàn vội với nhau, tôi xuống đối phó với bọn hiến binh còn anh Thắng giữ chiếc va ly có giấu tài liệu tiếp tục theo tàu. Anh Thắng chỉ kịp dặn nhỏ: “Thuyền 103 sông Hương là cơ sở tốt”. Tôi hiểu anh hẹn sẽ trở lại Huế chờ đón tôi.
    |
 |
| Bà Nguyễn Thị Kỳ và chồng - Đại tướng Văn Tiến Dũng. Ảnh tư liệu gia đình |
Tôi bị giữ 3 ngày tại cơ quan hiến binh Nhật ở Tourane mới được thả. Viên thông ngôn đưa tôi về nhà riêng của hắn và thông qua người vợ thăm dò tôi gần một ngày cũng không phát hiện được gì. Chiều hôm đó, nhân lúc người chồng đi làm, chị vợ lúi húi dưới bếp, tôi ra khỏi nhà, thuê xe ra thẳng bến ô tô đi Huế. Tìm đến nhà thuyền 103, tôi thấy anh Thắng đã ở đó chờ tôi. Nhà thuyền này là một cơ sở mà anh Thắng đi qua Huế thường ghé lại.
Tuy người còn mệt, chúng tôi vẫn lên đường ngay. Tới Phan Rí, chẳng ngờ đường bị tắc. Tàu không có, ô tô cũng không, tiến thoái lưỡng nan. Thế rồi chúng tôi gặp một sĩ quan Nhật đeo kiếm khi ăn sáng ở khách sạn. Hắn để chiếc mô tô thùng kiểu nhà binh trước cửa rồi vào nhà hàng gọi rượu và thức ăn. Hắn xoay ghế để nhìn thẳng về phía chúng tôi. Tôi sẵn ghét bọn Nhật, lại vừa bị một vố rắc rối với tên đội trên tàu nên bàn với anh Thắng tìm cách ra khỏi khách sạn.
Còn tên quan Nhật nhìn tôi, cái nhìn thật khó tả, vừa như khiêu khích vừa như cầu thân. Một lúc sau, hắn tới bàn chúng tôi lân la nói chuyện. Tên này biết tiếng Anh nên anh Thắng nói chuyện được. Thỉnh thoảng anh dịch lại cho tôi nghe.
Tên quan Nhật khoe hắn dòng dõi hoàng gia, có tâm hồn phóng khoáng, cao thượng. Chẳng biết anh Thắng đã nói gì mà hắn cứ làm duyên trước mặt tôi, cười nói luôn miệng, mời rượu chúng tôi. Sau một hồi làm quen, chúng tôi xách chiếc va ly lên xe mô tô của viên sĩ quan Nhật. Biết là mạo hiểm nhưng chúng tôi vẫn đi bởi ngày tổng khởi nghĩa sắp đến, các đồng chí đang chờ.
Tới mỗi trạm có lính Nhật gác, tên sĩ quan chỉ hất hàm là rào chắn được nhấc lên, xe lại chạy vun vút trên đường. May mắn là xe qua các đồn điền cao su không gặp đoàn du kích nào của ta ra phục kích trừ gian hoặc bắn Nhật lấy súng.
Trên đường, anh Thắng chăm lo cho tôi rất chu đáo. Có đêm tại khách sạn, anh Thắng đã canh cho tôi ngủ. Anh tìm mọi cách gỡ cho tôi thoát những hoàn cảnh phức tạp mà tên sĩ quan Nhật luôn tìm cách giăng bẫy để lợi dụng tôi.
Tới Sài Gòn, chúng tôi muốn rời khỏi tên Nhật ngay nhưng chưa có cơ hội. Hắn bám theo tôi từng bước, đưa chúng tôi vào ăn tại một khách sạn lớn ở đường Catinat. Nửa đêm hôm ấy, khi hắn say rượu, ngủ thiếp đi, anh Thắng và tôi khéo léo bịa chuyện nói với chủ khách sạn để ra ngoài một lát, rồi xách va ly đi thẳng.
Anh Thắng ở Sài Gòn lâu, quen biết nhiều, như hổ về rừng. Anh đưa tôi đến một cơ sở ở xóm thợ Ba Son. Tôi trút toàn bộ cái lốt tân thời xứ Bắc và mấy thứ nữ trang bằng vàng giả ra, mặc bộ bà ba đen vào, bới tóc lại, hệt như một cô gái lao động Sài Gòn.
Tôi xiết bao vui mừng khi gặp các anh Hà Huy Giáp, Ung Văn Khiêm để trao toàn bộ thư tín, tài liệu. Các anh giúp tôi đặt được các đầu mối liên lạc vững chắc giữa Trung ương và Xứ ủy. Ngoài ra, các anh còn dành thời gian kể cho tôi biết về tình hình chung của Đảng bộ, của tổ chức và phong trào ở Sài Gòn và toàn Nam Bộ. Sau mấy ngày nghỉ ngơi, được dẫn đi thăm Sài Gòn và vùng quanh, tôi lên đường trở ra Bắc mang theo thư và báo cáo của Xứ ủy Nam Kỳ trao cho anh Trường Chinh...”.
Chỉ ít lâu sau, bà Nguyễn Thị Kỳ tiếp tục được phái vào Sài Gòn. Lần này, bà đưa cán bộ vào và đặc biệt là thư triệu tập đại biểu Nam Kỳ ra dự Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội ở Tân Trào. Bà nhớ lại: “Được chỉ định đại biểu cho “Việt Minh mới” ra họp, các đồng chí Hà Huy Giáp và Ung Văn Khiêm vội chuẩn bị lên đường ra Bắc ngay. Còn tôi có một niềm vui to lớn mà lần đi trước chưa có được là tận mắt chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của Phong trào Thanh niên Tiền phong ở Sài Gòn và toàn xứ Nam Kỳ. Sau đó, tôi đóng vai vợ đồng chí Ung Văn Khiêm phụ trách dẫn đường đưa các đại biểu ra Bắc”.
Theo hồi ức của bà, khi tới gần Hà Nội, đồng chí Hà Huy Giáp xin tách đoàn để đến thăm các đồng chí quen, sau đó nhập vào đoàn của đồng chí Trường Chinh để lên chiến khu. Còn bà tiếp tục đưa đồng chí Ung Văn Khiêm đến an toàn khu thì bàn giao nhiệm vụ cho giao liên đặc biệt đưa đồng chí lên địa điểm họp. Bà đã hoàn thành nhiệm vụ đưa các đại biểu Nam Kỳ kịp dự họp đúng thời gian đã định.
Chuyến đi lần thứ ba vào Sài Gòn là chuyến đi cấp tốc đem chỉ thị khởi nghĩa của Trung ương vào cho Xứ ủy sau ngày Nhật đầu hàng. Ngày 25-8-1945, Sài Gòn vùng lên khởi nghĩa và bà Kỳ được sống những ngày lịch sử ở Xóm Chiếu, ngoại ô Sài Gòn. Sinh thời, khi nhớ về thời khắc đặc biệt ấy, bà xúc động kể: “Làm giao liên, được gần Trung ương, tôi biết nỗi âu lo của các anh về việc Sài Gòn, Nam Kỳ gặp khó khăn, không kịp cùng toàn quốc giành trọn vẹn chính quyền về tay nhân dân. Nay nỗi lo này không còn. Niềm vui của tôi càng to lớn, càng trọn vẹn khi nghĩ về các anh, về Trung ương, về Hà Nội. Tôi như mê say hòa vào dòng người vô tận đi biểu tình ở Sài Gòn, hoan hô cách mạng đến khản cả giọng. Qua đâu cũng thấy rợp trời cờ đỏ sao vàng và từng lớp sóng người cuồn cuộn kéo nhau đi mít tinh mừng ngày chiến thắng, mừng quyền được sống làm người”.
BẢO LINH - PHƯƠNG HOA