N’Trang Lơng sinh năm 1870, dân tộc M’nông, quê ở làng Bu Par (Pu Pơ) xã Đăk R’Tih, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông (nay là xã Tuy Đức, tỉnh Lâm Đồng). Ông là tù trưởng có uy tín lớn trong vùng, được dân làng kính trọng, nể phục.
Căm thù trước cảnh bị quân xâm lược giày xéo quê hương và thấu hiểu nỗi thống khổ của dân làng, từ năm 1912, N’Trang Lơng cùng tù trưởng, già làng các dân tộc địa phương quyết định xây dựng căn cứ ở thung lũng Bu Siết để khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Mục tiêu là đánh đuổi quân Pháp ra khỏi cao nguyên Mnông và toàn bộ vùng Tây Nguyên. Để tập hợp lực lượng, N’Trang Lơng tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia nghĩa quân chống thực dân Pháp. Lúc đầu, lực lượng nghĩa quân do N’Trang Lơng chỉ huy chỉ có 150 người, sau một thời gian phát triển lên khoảng 5.000 người, chủ yếu là người dân tộc Mnông và Xtiêng.
Căn cứ vào địa bàn đứng chân, N’Trang Lơng quyết định chia lực lượng nghĩa quân thành hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất ở ngoài rừng là lực lượng chủ lực gồm những trai tráng khỏe mạnh, thoát ly sản xuất, trực tiếp chiến đấu dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh từng đội nghĩa quân. Riêng tại trung tâm căn cứ Bu Siết có 150-170 nghĩa quân, căn cứ Bupa Man có khoảng 200 nghĩa quân được trang bị các loại vũ khí thô sơ như giáo, mác, cung, nỏ, súng kíp và một số súng thu được của địch.
Bộ phận thứ hai bố trí ở các buôn, làng; mỗi nơi có 5-10 nghĩa quân, đặt dưới sự chỉ đạo của một thủ lĩnh tại địa phương. Lúc bình thường, họ là những người lao động, sản xuất. Khi cần chiến đấu, họ được lệnh cầm súng cùng người dân toàn buôn, làng đánh giặc. N’Trang Lơng còn tổ chức một bộ phận lực lượng đặc biệt làm nhiệm vụ tuyên truyền và thám báo; đồng thời truyền lệnh từ thủ lĩnh N’Trang Lơng đến các thủ lĩnh từng địa phương, giao lương, tiếp tế theo hiệu lệnh quy định.
Dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng, ở từng căn cứ (gồm Bu Siết, Dak Huich, B’Heng Reng...), nghĩa quân đào hầm, dựng lán trại, kho lương thực, kho cất giấu vũ khí... Xung quanh căn cứ, nghĩa quân cắm hệ thống hầm chông, cạm bẫy dày đặc bảo vệ. N’Trang Lơng coi trọng công tác hậu cần, cứu thương tổ chức khá chu đáo trong từng căn cứ.
Sau một thời gian xây dựng các căn cứ, củng cố lực lượng, nghĩa quân do N’Trang Lơng chỉ huy bắt đầu tiến đánh địch. Phương thức tác chiến cơ bản của nghĩa quân là đánh du kích, lấy ít địch nhiều. Tháng 1-1912, 150 nghĩa quân của N’Trang Lơng phối hợp với 150 nghĩa quân của B’Heng Reng, bí mật cơ động áp sát đồn Pu Xra, Sở chỉ huy của quân Pháp đặt ở chân núi Nam Lia. Nghĩa quân bất ngờ diệt lính gác, rồi nhanh chóng tiến vào đồn diệt nhiều địch. Trận thắng mở đầu đã gây tiếng vang lớn, làm nức lòng nhân dân trong vùng, cổ vũ, động viên nghĩa quân hăng hái đánh giặc.
Dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng, nghĩa quân đẩy mạnh hoạt động chống thực dân Pháp lan rộng ra hầu khắp các buôn, làng. Ban đầu, từ một bộ lạc người Mnông ở Bắc Đắk Lắk, sau lan rộng ra nhiều bộ lạc người Mnông ở Tây Nam Đắk Lắk, Bắc Biên Hòa, Thủ Dầu Một và thượng du tỉnh Kratié (Campuchia), thu hút các bộ lạc người Stiêng, Mạ... cùng tham gia.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nghĩa quân N’Trang Lơng, Toàn quyền Đông Dương lệnh cho Tỉnh trưởng Kratié đưa quân từ Campuchia sang đàn áp. Chúng tàn sát, đốt phá các làng bản, trong đó tàn phá làng Bu Par, giết chết vợ và con N’Trang Lơng. Để bảo toàn lực lượng, N’Trang Lơng quyết định rút nghĩa quân về căn cứ Dak Huich, sau đó tản vào rừng sâu, vận động nhân dân thực hiện “vườn không nhà trống”, không hợp tác với giặc.
Sau một thời gian củng cố lực lượng, mùa khô 1913-1914, nghĩa quân do N’Trang Lơng chỉ huy liên tiếp đánh hai trận tập kích vào đồn Xrây Ktum và trại lính Pháp ở Bu Pola, gây cho chúng một số thiệt hại. Tiếp đó, khoảng giữa năm 1914, nghĩa quân dùng kế trá hàng, bày lễ “đầu thú” để dụ Henri Maitre-chỉ huy quân Pháp sa vào trận địa phục kích của nghĩa quân. Tại đây, nghĩa quân bất ngờ nổ súng tiêu diệt Henri Maitre và 40 lính Pháp.
Phát huy thắng lợi, đêm 4-8-1914, nghĩa quân đột nhập đồn Bu Méra, tiêu diệt số lính còn lại và phóng hỏa đốt cháy đồn. Phát huy thắng lợi, nghĩa quân liên tục tiến công, hạ các đồn Pukha, Pétssa và Puthông. Những thắng lợi liên tiếp đã làm cho thanh thế nghĩa quân N’Trang Lơng vang dội khắp vùng Nam Tây Nguyên, thu hút ngày càng đông đảo các bộ lạc người Mnông tham gia nghĩa quân đánh giặc Pháp.
Đầu tháng 1-1915, biết giặc Pháp tập trung quân đàn áp đồng bào Mnông, nghĩa quân N’Trang Lơng bám sát địch và đánh quấy rối chúng nhiều lần dọc đường đi càn quét. Đêm 14, rạng sáng 15-1-1915, khi địch đang dừng chân ở Pu Tiếng, N’Trang Lơng chỉ huy nghĩa quân tập kích bất ngờ, tiêu diệt nhiều địch, thu toàn bộ vũ khí và quân trang, quân dụng. Trong hai năm 1914-1915, nghĩa quân tiến công nhiều đồn, đánh lui nhiều đợt càn của địch, làm chủ vùng cao nguyên Mnông.
Từ năm 1916 đến 1930, thực dân Pháp thực hiện chính sách bao vây, đàn áp khốc liệt, hòng cô lập nhân dân với nghĩa quân. Trước tình hình đó, nghĩa quân N’Trang Lơng tạm ngừng hoạt động tác chiến và tranh thủ củng cố lực lượng, sẵn sàng đánh địch khi có thời cơ thuận lợi. Ngày 26-1-1931, nghĩa quân N’Trang Lơng bất ngờ tiến công tiêu diệt tên Gatille, Đại lý hạt Snoul, chỉ huy trưởng phụ trách xây dựng đường số 14 và hàng chục binh lính địch, phá tan đồn binh địch, bảo vệ con đường chiến lược này. Bị thất bại, giặc Pháp mở cuộc càn quét lớn vào nhiều buôn, làng Tây Nguyên hòng tiêu diệt bằng được nghĩa quân. Dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng, nghĩa quân chủ động rút vào rừng sâu nhằm bảo toàn lực lượng.
Để giành lại thế chủ động, đầu năm 1933, N’Trang Lơng chỉ huy hơn 200 nghĩa quân tiến công diệt đồn 65, cứ điểm kiên cố, có hầm hào, dây thép gai bao quanh. Sau đó, đánh bại quân địch đến ứng cứu. Trong hai tháng 2 và 3-1933, địch mở các cuộc càn quét lớn, gây nhiều khó khăn cho nghĩa quân. Trong tình thế bị địch bao vây, N’Trang Lơng vẫn duy trì hoạt động tác chiến. Tháng 1-1934, nghĩa quân tập kích đồn Lơ Rô-lang, gây cho địch một số thiệt hại. Từ giữa năm 1935, địch mở cuộc truy quét quyết liệt. Nghĩa quân phải di chuyển từ cánh rừng này sang cánh rừng khác trong điều kiện mưa gió, đói rét. Nhiều thủ lĩnh chỉ huy các đội nghĩa quân hy sinh, hoặc bị địch bắt. Ngày 20-5-1935, N’Trang Lơng bị nội phản dẫn đường tìm ra nơi ẩn nấp. Bị tấn công bất ngờ, N’Trang Lơng bị thương nặng, bị địch bắt và hy sinh ngày 23-5-1935.
Suốt từ năm 1912 đến 1935 lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp, N’Trang Lơng đã nêu tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, ý chí quyết tâm đánh giặc Pháp. Cuộc đời và những chiến công của N’Trang Lơng sáng mãi với quê hương, đất nước, trở thành niềm tự hào của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Để phát huy tinh thần của anh hùng dân tộc N’Trang Lơng, giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm cho các thế hệ mai sau, ngày 20-12-2022, tỉnh Đắk Nông đã tổ chức Lễ kỷ niệm 110 năm Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng và khánh thành Tượng đài N’Trang Lơng tại đồi Đắk Nút B, tổ 4, phường Nghĩa Đức, TP Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông (nay là phường Bắc Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng).
Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP