Nguyễn Quang Bích hay Ngô Quang Bích, tự Hàm Huy, hiệu Ngư Phong, sinh ngày 8 tháng Tư năm Nhâm Thìn (tức ngày 7-5-1832), quê làng Trình Phố, huyện Chân Định (sau đổi thành Trực Định), phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay là làng Trình Nhất, xã Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên). Ông vốn họ Ngô, dòng dõi Ngô Quyền, nhưng do ông nội đổi sang họ ngoại là họ Nguyễn, nên thường gọi ông là Nguyễn Quang Bích.
Thuở nhỏ, Nguyễn Quang Bích nổi tiếng thông minh học giỏi. Sau khi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ Đình nguyên tức Hoàng giáp (năm 1869), ông được cử làm Tri phủ tại phủ Lâm Thao (tỉnh Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Phú Thọ), rồi Tri phủ Diên Khánh (nay thuộc tỉnh Khánh Hòa), Án sát Sơn Tây, Tế tửu Quốc Tử Giám, Án sát Bình Định, Chánh sứ sơn phòng kiêm Tuần phủ Hưng Hóa.
    |
 |
| Nguyễn Quang Bích (1832-1890). |
Khi quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai, Nguyễn Quang Bích cương quyết chống lại chính sách thỏa hiệp của triều đình và chỉ huy binh lính giữ thành Hưng Hóa (năm 1883). Thành thất thủ, ông quyết không tuân theo lệnh bãi binh của triều đình để về Huế nhận chức, mà rút quân sĩ về lập căn cứ tại vùng Cẩm Khê (Phú Thọ). Lúc đầu, ông tạm đóng quân ở Sơn Tình, sau đó chuyển lên lập căn cứ ở Tiên Động (nay thuộc xã Tiên Lương, tỉnh Phú Thọ). Biết tin Nguyễn Quang Bích tập hợp lực lượng chống Pháp, một số đội nghĩa quân ở các địa phương, trong đó nổi bật là Nguyễn Văn Giáp đã chuyển nghĩa quân của mình từ lưu vực sông Thao (Phú Thọ) đến phối hợp chiến đấu dưới sự lãnh đạo chung của Nguyễn Quang Bích.
Dựa vào căn cứ Tiên Động, nghĩa quân Nguyễn Quang Bích tỏa ra hoạt động trên các vùng sông Đà, sông Thao; phối hợp chiến đấu với các đội nghĩa quân của Đề Kiều (Hoàng Văn Thúy), Đốc Ngữ... Hoạt động trên địa bàn rộng, Nguyễn Quang Bích có điều kiện liên lạc, phối hợp với các thủ lĩnh nghĩa quân tỉnh xa như Đinh Công Tráng, Hà Văn Mao (Thanh Hóa), Đinh Gia Quế, Trần Văn Sang (Hưng Yên)... Chỉ trong thời gian ngắn, Nguyễn Quang Bích đã tập hợp được lực lượng nghĩa quân đông đảo, rộng khắp, sẵn sàng chống lại các cuộc tiến công của địch.
Lo sợ trước sự phát triển của nghĩa quân Nguyễn Quang Bích, thực dân Pháp huy động lực lượng mở các cuộc tiến công vào căn cứ Tiên Động. Dưới sự chỉ huy mưu trí của Nguyễn Quang Bích, nghĩa quân đã chiến đấu dũng cảm, đánh bại nhiều cuộc tiến công của địch, bảo vệ vững chắc căn cứ. Các trận đánh gây cho địch một số thiệt hại, buộc chúng phải rút về Hưng Hóa (nay thuộc xã Tam Nông, tỉnh Phú Thọ).
Nhằm mở rộng địa bàn hoạt động, tháng 5-1885, Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp làm trát sức gửi quyền Chánh lãnh binh tỉnh Bắc Ninh, nêu rõ: Lực lượng nghĩa quân tập trung ở đại bản doanh Nguyễn Quang Bích ngày càng đông, địa bàn hoạt động rộng khắp vùng Tây Bắc, đến Sơn Tây, Hòa Bình và Thanh Hóa. Thời cơ đánh Pháp là lúc này. Mong quyền Chánh lãnh binh Bắc Ninh cố gắng chỉnh đốn lực lượng, tùy cơ mà đánh giặc.
Giữa lúc Nguyễn Quang Bích tập hợp lực lượng kháng chiến thì Vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương (tháng 7-1885), kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân chống thực dân Pháp. Nguyễn Quang Bích được phong chức Lễ bộ Thượng thư, sung Hiệp thống Bắc Kỳ Quân vụ đại thần, tước Thuần Trung Hầu, thay mặt Vua Hàm Nghi tổ chức và chỉ huy các lực lượng kháng chiến ở vùng Tây Bắc.
Sau những lần nhận lệnh Vua Hàm Nghi sang Vân Nam (Trung Quốc) cầu viện, Nguyễn Quang Bích trở về dồn sức lực củng cố, phát triển nghĩa quân. Ông chọn Đại Lịch thuộc châu Văn Chấn (nay thuộc xã Chấn Thịnh, tỉnh Lào Cai) xây dựng thành trung tâm căn cứ. Với uy tín của mình, ông được đông đảo đồng bào các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Mông, Dao hết lòng ủng hộ lập kho lương thực dự trữ. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân Nguyễn Quang Bích cũng mở rộng khắp vùng Tây Bắc tới biên giới phía Bắc.
Để phát triển lực lượng, Nguyễn Quang Bích liên hệ với một số tù trưởng các dân tộc như: Đèo Văn Trì, Cầm Văn Hoan, Cầm Văn Thanh...; đồng thời liên lạc với các lãnh tụ phong trào Cần Vương như: Nguyễn Thiện Thuật (Hưng Yên), Nguyễn Tử Ngôn (Ninh Bình), Tống Duy Tân (Thanh Hóa), Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh)...
Trước thanh thế nghĩa quân Nguyễn Quang Bích lan rộng khắp Tây Bắc và các vùng lân cận, cuối tháng 12-1886, quân Pháp mở cuộc càn quét lớn vào căn cứ Đại Lịch. Dựa vào địa hình hiểm trở, ngày 2-1-1887, nghĩa quân chặn đánh địch quyết liệt tại đèo Gỗ (trên tỉnh lộ 321, đoạn thuộc xã Sơn Lương, tỉnh Phú Thọ ngày nay). Tiếp đó, nghĩa quân tiếp tục chặn đánh trên đèo Hạn Bái, gây cho chúng một số thiệt hại. Dựa vào thế quân đông, ngày 3-1-1887, địch tiến vào triệt hạ căn cứ Đại Lịch. Trước đó, nghĩa quân đã chủ động chuyển vào xây dựng căn cứ mới ở Nghĩa Lộ trong vùng lòng chảo Mường Lò (trước thuộc châu Văn Chấn, nay thuộc các phường Nghĩa Lộ, Trung Tâm, Cầu Thia, tỉnh Lào Cai). Tại đây, Nguyễn Quang Bích trực tiếp liên lạc với Tôn Thất Thuyết ở bên kia biên giới (Trung Quốc), nhận tiếp tế súng đạn, góp phần trang bị cho nghĩa quân hoạt động.
Lo sợ trước thanh thế nghĩa quân, giặc Pháp vừa huy động lực lượng đàn áp, vừa dùng quan tước, bổng lộc để mua chuộc Nguyễn Quang Bích. Thế nhưng chúng không thể khuất phục được ý chí bất khuất, thà chết chứ không đầu hàng giặc của Nguyễn Quang Bích. Sau khi Nguyễn Văn Giáp lâm bệnh và qua đời, từ cuối năm 1887, Nguyễn Quang Bích và nghĩa quân của ông bắt đầu gặp khó khăn. Một mặt, căn cứ nghĩa quân ngày càng bị địch siết chặt vòng vây, mặt khác do chiến đấu dài ngày, lực lượng nghĩa quân bị hao tổn, lương thực cạn dần.
Trước tình hình đó, Nguyễn Quang Bích tuyên bố với nghĩa quân: “Quân giặc sợ ta phản công nên tạm thời tháo lui đó thôi. Đường xa hư thực chúng đã biết hết rồi, ta không thể ở đây lâu được”. Vì thế, Nguyễn Quang Bích chuyển nghĩa quân từ Nghĩa Lộ đến Sơn Động rồi Sơn Lương. Tiếp đó, tháng 9-1888, Nguyễn Quang Bích chuyển đến Mộ Xuân, châu Yên Lập (nay thuộc xã Xuân Viên, tỉnh Phú Thọ) lập căn cứ, củng cố lực lượng tiếp tục đánh Pháp.
Để ngăn chặn cuộc tiến công của địch, Nguyễn Quang Bích phái các tướng chỉ huy nghĩa quân bố trí trận địa phục kích cách căn cứ khoảng 6km. Chờ địch tiến vào khu vực trận địa, nghĩa quân bất ngờ nổ súng, tiêu diệt và làm bị thương phần lớn quân địch, thu nhiều vũ khí, buộc số địch còn lại phải rút lui. Cuối năm 1889, Nguyễn Quang Bích bàn với các tướng sĩ phải chuẩn bị cuộc tiến công lớn trong năm 1890. Thế nhưng kế hoạch không thể thực hiện được do Nguyễn Quang Bích lâm bệnh nặng và mất vào tháng 1-1890 tại núi Tôn Sơn.
Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Quang Bích, các nhà sử học đều đánh giá ông là người yêu nước sâu sắc, chí khí cao và có khả năng tập hợp quần chúng nhân dân. Ông không chỉ để lại những áng thơ văn trong “Ngư Phong thi tập”, mà còn là một nhà quân sự tài ba. Khi thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm lên vùng Tây Bắc, Nguyễn Quang Bích đã chỉ huy quân sĩ giữ thành Hưng Hóa, sau đó lập căn cứ kháng chiến.
Được Vua Hàm Nghi và triều đình giao trọng trách lớn, Nguyễn Quang Bích đã phát huy tài năng cầm quân, trở thành thủ lĩnh tối cao chỉ huy nghĩa quân vùng Tây Bắc chiến đấu, gây cho quân địch nhiều khó khăn và tổn thất, đồng thời để lại nhiều bài học kinh nghiệm về tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ địa, thực hành tác chiến. Hoạt động quân sự và những chiến công của nghĩa quân vùng Tây Bắc do Nguyễn Quang Bích chỉ huy góp phần làm phong phú, sinh động phong trào nhân dân ta kháng chiến kiên cường chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ 19.
Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP