Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng được người đời biết đến không chỉ là một danh tướng nổi tiếng với tài cầm quân xông pha trận mạc mà còn là một “công trình sư” về kỹ thuật quân sự, được tôn vinh là “ông tổ” nghề đúc súng thần công của Việt Nam. Hồ Nguyên Trừng là con trai cả của Hồ Quý Ly, sinh ra tại vùng quê nghèo Đại Lại, phủ Thanh Hóa. Những năm cuối của triều Trần, ông từng giữ chức Phán tự sự, rồi Tư đồ. Tháng 2 năm Canh Thìn 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi của Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua, lấy Quốc hiệu là Đại Ngu. Sau đó, Hồ Quý Ly nhường ngôi cho người con thứ là Hồ Hán Thương rồi lui về làm Thái thượng hoàng cùng trông coi việc nước. Hồ Nguyên Trừng được phong Tả tướng quốc, chỉ huy quân đội nhà Hồ.

Bấy giờ, đất nước đang trong tình trạng rối loạn, chính quyền trung ương suy yếu, lòng dân ly tán, họa ngoại xâm đến từ phương Bắc và cả phương Nam rình rập, chực chờ. Trong bối cảnh rối ren, phức tạp đó, nhà Hồ chủ trương tiến hành một cuộc cải cách đất nước toàn diện, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho đến quân sự. Dẫu rằng những cuộc cải cách quyết liệt đó có ý nghĩa tích cực và đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, nhưng xét toàn cục thì chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, đặc biệt là chưa đáp ứng được những đòi hỏi bức thiết của dân tộc, của người dân lúc bấy giờ. Các cuộc cải cách đó chủ yếu chỉ mới mang lại lợi ích cho họ Hồ nhiều hơn là cho quốc gia, dân tộc. Điều này đã dẫn tới mất lòng dân và đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến thất bại của nhà Hồ trong cuộc kháng chiến chống quân Minh (thế kỷ 15). Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng là người đã sớm nhận ra vai trò và sức mạnh to lớn của lòng dân và không phải ngẫu nhiên mà ông thốt ra lời cảnh báo: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân có theo hay không theo mà thôi”.

leftcenterrightdel

Thuyết minh viên giới thiệu về danh nhân Hồ Nguyên Trừng và các sáng chế của ông tại Di tích Thành nhà Hồ ở Thanh Hóa. Ảnh: THANH TÚ 

Điều gì đến cũng phải đến. Năm 1406, quân Minh dưới sự thống lĩnh của Trương Phụ và Mộc Thạnh kéo vào xâm lược nước ta. Trước các mũi tiến công ồ ạt của quân giặc, mặc dù có những vị chỉ huy tài trí như Hồ Nguyên Trừng nhưng vì không được lòng dân nên quân đội nhà Hồ chỉ chặn đánh và làm chậm được bước tiến của quân Minh ở một số nơi, rồi đành phải rút lui về phòng tuyến phía Nam sông Hồng. Tại đây, đội quân nhà Hồ cũng chỉ cầm cự được ít lâu. Tháng 1-1407, thành Đa Bang thất thủ, tuyến phòng thủ Nam sông Hồng bị phá vỡ, quân Minh tràn vào kinh thành Thăng Long, ra sức cướp bóc, phá phách. Quan, quân nhà Hồ phải rút xuống vùng hạ lưu sông Hồng, sau đó theo đường biển tiếp tục chạy vào Thanh Hóa. Quân Minh tiến đánh Tây Đô, với tinh thần “không sợ đánh”, Hồ Nguyên Trừng kiên cường chỉ huy quân sĩ chiến đấu đến cùng, nhưng rồi đội quân của ông “đơn thương độc mã” không thể trụ vững trước cuộc tiến công của quân Minh, cuối cùng phải rút lui vào vùng Kỳ Anh (Hà Tĩnh). Tại đây, giữa năm Đinh Hợi 1407, 3 cha con Hồ Nguyên Trừng rơi vào tay giặc và bị đưa về Nam Kinh (Trung Quốc).

Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nhà Hồ thất bại cho thấy tầm nhìn của Hồ Nguyên Trừng về sức mạnh của nhân tố tinh thần. Đó là lòng dân, tinh thần cố kết dân tộc tạo nên sức mạnh vô song có thể chiến thắng bất cứ kẻ thù nào. Để mất lòng dân, vận nước sẽ lâm nguy.

Nhà Hồ chỉ tồn tại trong vòng 7 năm (1400-1407). Trong thời gian ngắn ngủi đó, mặc dù nhà Hồ có những cải cách rất táo bạo và quyết liệt nhưng vì để mất lòng dân nên đã thất bại. Kết cục là nước ta lại rơi vào ách đô hộ của nhà Minh. Tuy nhiên, không vì điều đó mà vai trò và những đóng góp to lớn của Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đối với dân tộc bị lịch sử lãng quên. Không phải ngẫu nhiên mà sử gia Ngô Sĩ Liên từng nhận xét: “Mệnh trời là ở lòng dân. Câu nói của Trừng hiểu được điều cốt yếu đó. Không thể vì cớ là họ Hồ mà bỏ câu nói của Trừng”(1).

Không chỉ là một vị tướng sớm nhận ra điều cốt lõi trong kế sách giữ nước chính là sức mạnh của lòng dân, là một Tả tướng quốc chỉ huy quân đội của triều đình, Hồ Nguyên Trừng giữ một vai trò to lớn và có nhiều đóng góp quan trọng trong quá trình chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Để đối phó với tình thế thúc bách lúc đó, Hồ Nguyên Trừng chủ trương gấp rút xây dựng, củng cố quân đội bằng những việc làm cụ thể như: Làm sổ hộ khẩu quản lý nhân đinh, nghiêm cấm việc ẩn lậu và cấm người phiêu tán; tăng cường kiểm duyệt quân ngũ; mở các xưởng rèn đúc vũ khí, đóng thuyền bè; lập các kho cất giấu, dự trữ vũ khí, quân lương... Về xây dựng thế trận, đối với vùng biên viễn phía Nam, ông chủ trương tổ chức các cuộc hành quân và di dân vào đứng chân khai khẩn dọc vùng biên, vừa nhằm mục đích khai khẩn đất đai, phát triển kinh tế vừa để củng cố thế trận quốc phòng nơi biên ải. Nhằm đối phó với cuộc xâm lăng đến từ phía Bắc, ông cho xây dựng một phòng tuyến kéo dài từ Đa Bang (Ba Vì) dọc theo bờ Nam sông Đà, sông Hồng, vòng sang sông Luộc, sông Thái Bình; đồng thời huy động nhân dân dọc hai bên bờ sông Bạch Hạc đóng cọc xuống lòng sông để ngăn chặn thuyền chiến của giặc. Ông còn cho đúc nhiều dây xích lớn bằng thép chăng qua một số khúc sông hiểm yếu, kết hợp với tổ chức các ổ mai phục để tiêu diệt quân địch.

Hồ Nguyên Trừng còn là một vị tướng có tư duy và tầm nhìn chiến lược biển, đảo. Ông chủ trương xây dựng các xưởng đóng tàu, thuyền; trang bị tàu, thuyền và tổ chức cho binh sĩ huấn luyện thủy chiến. Dưới quyền chỉ huy của Hồ Nguyên Trừng, thủy binh nhà Hồ phát triển khá mạnh, trở thành một đối thủ đáng gờm đối với quân Minh lúc bấy giờ.

Nhắc đến Hồ Nguyên Trừng, có lẽ người đời nhớ tới ông nhiều hơn trong vai trò là một nhà sáng chế kỹ thuật quân sự. Tên tuổi của Hồ Nguyên Trừng gắn liền với súng “thần cơ”-niềm tự hào của nền quân giới Việt Nam, một loại vũ khí là “khắc tinh” đối với giặc Minh. Bấy giờ, để đương đầu với một đội quân đông và thiện chiến như quân Minh, Hồ Nguyên Trừng nhận thấy cần phải gấp rút sản xuất được các loại súng lớn. Nói là làm, trên cơ sở tìm hiểu, đúc kết kinh nghiệm nghiên cứu, chế tạo vũ khí, đặc biệt là thuốc súng của các bậc tiền nhân, ông đã mày mò cải tiến, cho ra đời một loại súng có sức công phá lớn hơn hẳn súng cùng loại của quân Minh. Đó là súng “thần cơ”. Nguyên lý hoạt động và các bộ phận của súng “thần cơ” về cơ bản tương tự như các loại súng “thần công” của triều Nguyễn về sau này. Bên cạnh súng “thần cơ” dùng cho bộ binh, Hồ Nguyên Trừng còn nghiên cứu sản xuất ra “thần cơ pháo”-một loại súng pháo có sức công phá lớn, thường được đặt trên các tường thành hoặc các xe kéo. Sự xuất hiện của súng “thần cơ” mà “kiến trúc sư” của nó là Hồ Nguyên Trừng đã gây bao nỗi khiếp đảm và kinh hoàng cho giặc Minh. Sử cũ nhà Minh chép rằng: “Trong cuộc “bình Giao Chỉ, người Minh đã bắt được “súng thần”, “pháo thần” của Giao Chỉ và coi loại vũ khí đó là “nhất thiên hạ”. Súng to, nhỏ khác nhau; thứ lớn dùng xe, thứ nhỏ dùng giá, dùng bệ, vác vai. Thứ lớn lợi cho phòng thủ; thứ nhỏ lợi cho chiến đấu, tùy nghi mà dùng”(2).

Năm 1407, sau khi quân Minh bắt được 3 cha con Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương và thu được một số súng “thần cơ” đem về Nam Kinh, biết được Hồ Nguyên Trừng là “kiến trúc sư” của loại vũ khí này, chúng đã dùng mọi cách mua chuộc, biệt đãi, phong cho ông chức Thượng thư Bộ Công và giao cho ông chế tạo “súng thần”. Quân đội nhà Minh tôn Hồ Nguyên Trừng là “thần của hỏa khí”. Sử cũ chép rằng: “Quân Minh khi làm lễ tế súng đều phải tế Trừng”.

Dẫu cùng chịu chung số phận như một số quan lại nhà Hồ, không tránh khỏi những lời thị phi của người đời, nhất là trong việc để mất lòng dân dẫn đến mất nước, song câu nói nổi tiếng của Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân có theo hay không theo mà thôi” cùng những phát kiến của ông trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự đáng được tôn vinh và có một vị trí xứng đáng trong lịch sử quân sự Việt Nam. Ông là một trong những danh nhân quân sự của nước ta đầu thế kỷ 15. 

TRẦN VĨNH THÀNH

(1) Đại Việt sử ký toàn thư, tr.211

(2) Danh nhân quân sự Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, H.2006, tr.14