Ngô Thì Nhậm (còn gọi là Ngô Thời Nhiệm, tự Hi Doãn, hiệu Đạt Hiên), sinh ngày 25-10-1747, tại làng Tả Thanh Oai, tục gọi là làng Tó, trấn Sơn Nam (nay là xã Đại Thanh, TP Hà Nội). Năm 1765, Ngô Thì Nhậm đỗ đầu thi hương, đỗ khoa sĩ vọng được bổ làm Hiến sát Phó sứ Hải Dương (năm 1769), đỗ tiến sĩ (1775), được bổ giữ chức Hộ khoa cấp sự trung, rồi thăng Giám sát ngự sử đạo Sơn Nam, sau làm Đốc đồng trấn Kinh Bắc kiêm Thái Nguyên. Năm 1779, giữ chức Đốc đồng hiệu thư (hiệu đính các văn tự, sách vở của triều đình). Năm 1788, được Nguyễn Huệ trọng dụng, phong làm Thị lang Bộ Lại, tước Tĩnh Phái Hầu, cùng Ngô Văn Sở cai quản Bắc Hà.
Tháng 11-1788, lấy cớ giúp Lê Chiêu Thống chống Tây Sơn, nhà Thanh (Trung Quốc) huy động 29 vạn quân, chia làm 3 đạo mở cuộc tiến công xâm lược nước ta. Trước thế giặc mạnh, Bộ tướng lĩnh Tây Sơn do Nguyễn Huệ ủy thác trấn giữ Bắc Hà đã họp bàn kế sách chống giặc. Tại cuộc họp đã diễn ra cuộc tranh luận gay gắt, có những tướng như Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Dụng hăm hở muốn quyết chiến ngay với quân Thanh, nhưng cũng có một số tướng còn đắn đo cho rằng cần phải tạm lánh thế mạnh của địch.
Vốn am hiểu binh pháp và căn cứ vào các yếu tố nhân tình thế thái (yếu tố chính trị và tinh thần), Ngô Thì Nhậm nêu rõ: “Phép dụng binh chỉ có một đánh và một giữ mà thôi. Nay quân Thanh sang đây, tiếng tăm rất lớn. Những kẻ trong nước làm nội ứng cho chúng phần nhiều lại phao tin đồn nhảm, làm cho thanh thế của chúng to thêm để cho lòng người sợ hãi lay động...”.
Trước cuộc tiến công ồ ạt của quân Thanh, Ngô Thì Nhậm cho rằng: “Nói cho cùng thì chỉ còn một cách này: Sớm sớm truyền cho thủy quân chở đầy các thuyền lương, thuận gió xuôi buồm, ra thẳng cửa biển, đến vùng Biện Sơn mà đóng quân. Quân bộ thì sửa soạn khí giới, gióng trống lên đường, lui về giữ Tam Điệp. Hai mặt thủy, bộ liên lạc với nhau, giữ lấy chỗ hiểm yếu, rồi cho người chạy về bẩm với chúa công... Chờ chúa công ra, bấy giờ sẽ quyết chiến một phen, cũng chưa muộn” (theo sách “Hoàng Lê nhất thống chí”, NXB Văn học, năm 1984, tập II, trang 160).
Trong lúc một số tướng lĩnh băn khăn cho rằng, chưa đánh mà đã lui binh, Ngô Thì Nhậm chỉ rõ: “Tướng giỏi đời xưa lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tùy theo tình hình thay đổi mà bày chước lạ. Giống như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước; đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cờ cao. Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên.
Cho chúng ngủ trọ một đêm rồi lại đuổi đi”. Đề ra được kế hoạch chiến lược này chứng tỏ Ngô Thì Nhậm rất am hiểu về sức mạnh của chiến tranh trong mối tương quan giữa địch và ta, cả về thế và lực, phán đoán trước xu thế chuyển biến tình thế quân cơ của hai bên và biết căn cứ vào địa thế đất nước, tạm thời lui binh từ Thăng Long về lập phòng tuyến ở Tam Điệp-Biện Sơn (từ thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, đến cửa Bang, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa).
Tam Điệp là nơi có địa thế hiểm yếu, địa hình hiểm trở, không những thuận lợi cho việc “giữ” (phòng thủ), “đánh” (tiến công) tại chỗ mà còn thuận lợi cho việc tập kết, đứng chân của một số lượng binh lực lớn, thực hiện kế ém binh, triển khai thế trận phòng ngự, chặn đường tiến quân của giặc Thanh nếu chúng từ Bắc Hà tiến vào, hoặc thực hiện ém binh triển khai đội hình tác chiến tiến công khi đại quân Tây Sơn từ Phú Xuân tiến ra Bắc Hà tiêu diệt quân Thanh.
Theo sách “Hoàng Lê nhất thống chí”, Tam Điệp là “cổ họng” giữa Bắc-Nam, mà trọng điểm là đoạn núi 7km có trục đường “thiên lý” băng qua trở thành vị trí chiến lược xung yếu. Tam Điệp cũng là bàn đạp lớn trên bộ, vừa có thể cơ động lực lượng, hành quân tác chiến lớn vào Nam, hoặc ra Bắc theo đường “thiên lý”, lại vừa có thể cơ động lực lượng, tác chiến nhỏ theo trục đường sông và đường biển qua cửa Thần Phù và theo đường bộ nhỏ dọc phía Bắc tới tận Nho Quan trên “thượng đạo”.
Bàn đạp lớn trên bộ từ Tam Điệp lại nối thông xuống Biện Sơn ở phía Đông Nam, một bàn đạp tác chiến lớn trên biển, tạo nên thế trận hai mặt thủy, bộ phối hợp chặt chẽ với nhau cả trong triển khai thế trận phòng ngự lớn, cũng như trong tác chiến tiến công quy mô lớn.
Kế chiến lược tạm thời lui binh của Ngô Thì Nhậm được Đại Tư mã Ngô Văn Sở và nhiều tướng khác đồng tình, chấp thuận, coi đó là kế sách vẹn toàn, bởi bảo toàn được lực lượng ta, đồng thời chờ đại quân của Nguyễn Huệ từ phía Nam ra. Với tư tưởng “bảo toàn quân lực và rút lui, không bỏ mất một mũi tên. Cho chúng ngủ trọ một đêm, rồi lại đuổi đi”; Bộ tướng lĩnh Tây Sơn chỉ huy lực lượng ở Bắc Hà đã nhanh chóng triển khai thực hiện theo kế chiến lược tạm thời lui binh, thực chất là cơ động lực lượng từ Thăng Long (Bắc Hà) về trấn giữ Tam Điệp và Biện Sơn gấp rút được thực hiện.
Các đạo quân trấn giữ ở Lạng Sơn, Thái Nguyên, Kinh Bắc, Hải Dương và Sơn Tây được lệnh chỉ để lại một toán quân nhỏ để nghi binh, còn lại nhanh chóng và bí mật tập trung về Thăng Long. Tại đây, quân Tây Sơn tổ chức một cuộc duyệt binh lớn bên bờ sông Hồng rồi rút lui theo kế hoạch đã định.
Thủy quân về đóng giữ cửa biển Biện Sơn, bộ binh lui về giữ vùng núi Tam Điệp. Đến ngày 17-12-1788, cuộc rút lui chiến lược tạm thời từ Thăng Long vào Tam Điệp-Biện Sơn hoàn thành. Ngô Văn Sở cử Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết phi ngựa tức tốc vào Phú Xuân cấp báo với Nguyễn Huệ.
Nhận được tin, ngày 22-12-1788, tại núi Ngự Bình thuộc Phú Xuân, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, sau đó đích thân dẫn đại quân hơn 10 vạn người hành quân thần tốc ra Bắc. Ngày 15-1-1789, Quang Trung dẫn đại quân đến tập kết ở Tam Điệp-Biện Sơn, sau đó nói với các tướng lĩnh ở Bắc Hà ra đón rằng: “Ta nghĩ các ngươi đều là hạng vũ dũng, chỉ biết gặp giặc là đánh, còn việc tùy cơ ứng biến thì không có tài.
Cho nên ta để Ngô Thì Nhậm ở lại làm việc với các ngươi chính là lo việc đó. Bắc Hà mới yên, lòng chưa phục, Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có núi để nương tựa. Các ngươi đóng quân trơ trọi ở đó, quân Thanh kéo sang, người trong kinh kỳ nội ứng cho chúng, thì các ngươi làm sao mà cử động được.
Các ngươi đã biết nhịn để tránh cái mũi nhọn của chúng, chia quân đóng giữ ở nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng. Kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói, ta đã đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ mưu, sau hỏi Văn Tuyết thì quả đúng như vậy”.
Kế chiến lược tạm thời lui binh của Ngô Thì Nhậm được Quang Trung, nhà quân sự thiên tài khen ngợi, bởi đó là cuộc rút lui chủ động, sáng tạo mang tầm chiến lược. Chủ động và sáng tạo ở chỗ, lúc đó quân Tây Sơn ở Thăng Long và cả toàn vùng Bắc Hà chỉ có khoảng hơn 1 vạn, trong khi quân Thanh là 29 vạn.
Xét tương quan lực lượng, quân Tây Sơn hoàn toàn bất lợi, do đó việc kéo quân về Tam Điệp-Biện Sơn không những bảo toàn được lực lượng mà còn chiếm giữ được một địa bàn hết sức trọng yếu giữa miền Bắc và miền Trung, có các dãy núi hiểm trở là chướng ngại thiên nhiên, giành thế thuận lợi đợi đại quân Tây Sơn từ Phú Xuân ra hội quân để chuẩn bị tiến công quân địch.
    |
 |
Trường Tiểu học Ngô Thì Nhậm, phường Hai Bà Trưng, TP Hà Nội. Nguồn: tieuhocngothinham.edu.vn
|
Sau 10 ngày dừng chân tập kết ở Tam Điệp-Biện Sơn, ngày 25-1-1789, đại quân Tây Sơn chia làm 5 đạo nhận lệnh xuất quân mở cuộc phản công tiến đánh quân Thanh. Chỉ trong 5 ngày đêm, từ ngày 25 đến 30-1-1789, dưới sự chỉ huy tài tình của Quang Trung-Nguyễn Huệ, quân Tây Sơn đã đánh tan toàn bộ quân Thanh, hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ giải phóng kinh thành Thăng Long, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước một cách oanh liệt, thần tốc.
Như vậy, kế chiến lược tạm thời lui binh từ Thăng Long vào lập phòng tuyến ở Tam Điệp-Biện Sơn để chặn giặc; đồng thời chờ đại quân từ phía Nam ra, do Ngô Thì Nhậm đề xuất được Ngô Văn Sở và các tướng lĩnh Bắc Hà chấp thuận, đặc biệt là Quang Trung-Nguyễn Huệ khen ngợi là kế sáng tạo, trọn vẹn và được thực hiện hiệu quả, từ tạm thời lui quân, sau đó chuyển hóa thành cuộc phản công chiến lược chính là nhân tố có ý nghĩa quyết định đưa đến chiến thắng to lớn của quân đội Tây Sơn. Với cống hiến tiêu biểu đó, Ngô Thì Nhậm xứng đáng là một danh nhân quân sự mưu lược thời Tây Sơn quật khởi.
Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP