Trần Nhật Duật sinh tháng 4 năm Ất Mão 1255; là con trai thứ của Vua Trần Thái Tông, em cùng cha khác mẹ của Vua Trần Thánh Tông và danh tướng Trần Quang Khải. Lúc quân dân Đại Việt kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ nhất (năm 1258), Trần Nhật Duật mới 3 tuổi. Lớn lên, Trần Nhật Duật ham đọc sách, về sau giỏi cả việc chính trị và quân sự, là bậc thân vương văn võ toàn tài; năm 1267 được vua phong làm Chiêu Văn Vương (có nghĩa là đón, gọi cái đẹp).
Sau hội nghị Bình Than (tháng 10-1282), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn điều động tất cả vương hầu, tướng lĩnh đem quân tới Đông Bộ Đầu (bến sông Hồng khu vực cầu Long Biên, gần dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay), tổ chức một cuộc tổng duyệt binh lớn ở Thăng Long, sau đó phân công các tướng lĩnh đưa quân đến trấn giữ ở những địa bàn hiểm yếu trên vùng biên giới phía Bắc. Bấy giờ, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (27 tuổi) được giao nhiệm vụ thống lĩnh một đội quân đi trấn giữ ở lộ Tuyên Quang (gồm hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, nay là tỉnh Tuyên Quang).
Thực hiện âm mưu xâm lược, cuối tháng 1-1285, quân Mông-Nguyên chia làm 3 cánh (2 cánh từ phía Bắc, 1 cánh từ phía Nam) tấn công xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Trên hướng Tây Bắc, cánh quân địch do Nạp Tốc Lạt Đinh (Nasirud Din) chỉ huy, từ Vân Nam (Trung Quốc) tiến vào, bị quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chặn đánh ở trại Thu Vật thuộc huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (nay là xã Thác Bà, tỉnh Lào Cai). Sau vài trận giao chiến, trước thế giặc mạnh, Trần Nhật Duật nhận được mật lệnh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn rút quân về Thiên Trường để bảo toàn lực lượng.
Căn cứ vào so sánh lực lượng và hiểu rõ ý đồ tác chiến của triều Trần, Trần Nhật Duật tổ chức rút quân bằng thuyền theo đường sông Chảy rồi vào sông Lô. Địch cho quân đuổi theo dọc hai bờ sông, nhưng tiến từ từ. Phán đoán đúng âm mưu của địch, Trần Nhật Duật nói với quân sĩ: “Phàm đuổi thì cần nhanh, nay giặc tiến từ từ, sợ có tiền quân chặn ngang phía trước”. Ông liền phái trinh sát đi nắm tình hình. Quả là phía trước đã có quân địch mai phục, Trần Nhật Duật mưu trí, kịp thời cho quân bỏ thuyền, lên bờ chia thành từng toán nhỏ bí mật theo đường bộ rút lui an toàn.
Ngày 20-2-1285, toàn bộ quân sĩ của Trần Nhật Duật về đến bờ sông Bạch Hạc (gần Việt Trì, Phú Thọ ngày nay) và dừng chân ở đây. Để động viên quân sĩ, Trần Nhật Duật tổ chức lễ cắt tóc, tuyên thệ: Nguyện dốc lòng trung, báo ơn vua, đền nợ nước. Sau đó, ông dẫn quân sĩ dưới quyền mình về hội với quân triều đình ở hạ lưu sông Hồng.
Sau khi hoàn thành rút lui chiến lược ở phía Bắc, vua Trần và Trần Hưng Đạo quyết định đánh chặn quân địch ở phía Nam, không cho chúng tiến ra hợp với quân ở phía Bắc. Tháng 2-1285, theo lệnh vua Trần, Trần Nhật Duật chỉ huy quân sĩ tiến vào trấn giữ vùng Nghệ An. Sau khi đánh chiếm phủ Bố Chính (Quảng Bình), quân Toa Đô đánh ra Nghệ An. Đội quân của Trần Nhật Duật cùng đội quân của Trần Quang Khải chiến đấu anh dũng và quyết liệt. Tuy nhiên, thế giặc còn mạnh, quân ta không chặn được, Trần Nhật Duật được lệnh lui quân ra Bắc.
Thời điểm này, Bộ thống soái tối cao nhà Trần đã có một kế hoạch chiến lược và sẵn sàng triển khai thực hiện. Thoát Hoan chiếm được kinh thành Thăng Long nhưng đến cuối tháng 4-1285, đội quân xâm lược hết lương thực, ốm đau, mệt mỏi bởi thời tiết, sức chiến đấu giảm sút. Nắm chắc thời cơ, vua Trần quyết định mở cuộc phản công lớn. Mục tiêu đầu tiên là tiêu diệt các đồn trại do quân địch đóng dọc bờ sông Hồng, đoạn qua vùng đất Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Cuối tháng 5-1285, Trần Nhật Duật được giao là tổng chỉ huy tiến công tiêu diệt cứ điểm Hàm Tử thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên). Trong trận đánh này, bên cạnh đại bộ phận quân sĩ nhà Trần, Trần Nhật Duật còn sử dụng binh sĩ người Tống. Số binh sĩ này được Trần Nhật Duật thu nạp khi trấn thủ ở Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái. Họ là những người không chịu sống dưới sự thống trị của quân xâm lược Mông Cổ, đã sang Đại Việt cùng quân và dân ta chống kẻ thù chung.
Sử cũ ghi: “Riêng quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật có cả người Tống, cầm cung tên chiến đấu. Thượng hoàng sợ các quân có thể không phân biệt được, sai người dụ rằng: Đó là quân Thát của Chiêu Văn đấy, phải nhận kỹ chúng. Vì người Tống và người Thát, tiếng nói và y phục giống nhau”. Quân Mông-Nguyên sợ hãi, tưởng có quân Tống sang giúp Đại Việt nên tinh thần hoang mang, mất hết nhuệ khí chiến đấu, thừa cơ quân Trần dũng mãnh tiến công, cứ điểm nhanh chóng bị tiêu diệt.
Sau chiến thắng Hàm Tử, Trần Nhật Duật chỉ huy quân sĩ chi viện cho đội quân Trần Quang Khải tiêu diệt địch ở Chương Dương, huyện Thường Tín (nay là xã Chương Dương, TP Hà Nội), tiếp đó tiến vào giải phóng Thăng Long. Ngày 24-6-1285, Trần Nhật Duật đem quân sĩ tham gia trận đánh quyết định do vua Trần trực tiếp chỉ huy, tiêu diệt hơn 50.000 quân địch ở Tây Kết (tỉnh Hưng Yên), góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên lần thứ hai (năm 1285).
Đất nước vừa được giải phóng, quân và dân Đại Việt chưa kịp khắc phục hậu quả chiến tranh thì lại phải đối phó với nguy cơ cuộc chiến tranh xâm lược mới đang đến gần. Tháng 7-1286, vua Trần ra lệnh cho các tôn thất, vương hầu, tướng lĩnh chiêu mộ thêm quân lính, sắm sửa vũ khí, đóng chiến thuyền, luyện tập sẵn sàng chiến đấu. Dưới quyền Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo, các tướng nhận nhiệm vụ đưa quân đến trấn giữ ở những hướng địch có thể tấn công. Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, một vị tướng trẻ được lệnh chỉ huy một đạo quân lên vùng Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ) chuẩn bị đánh chặn quân địch từ Vân Nam (Trung Quốc) tiến xuống.
Cuối năm 1287, quân Mông-Nguyên chia làm 3 cánh từ Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Đông mở cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Về vai trò của đội quân do Trần Nhật Duật chỉ huy quân sĩ trong cuộc kháng chiến này, sử sách cũ chép lại còn quá ít. Chỉ biết rằng, trên hướng Tây Bắc, ngày 11-12-1287, cánh quân Vân Nam, do Hữu thừa Ái Lỗ chỉ huy tiến đến Bạch Hạc bị Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chỉ huy 4 vạn quân chặn đánh quyết liệt ở cửa quan Mộc Ngột (Việt Trì, Phú Thọ). Sau một thời gian chiến đấu tiêu diệt nhiều sinh lực địch, Trần Nhật Duật nhận được lệnh lui quân về hội với quân Triều đình. Tiếp đó, trong trận Bạch Đằng (ngày 9-4-1288), dưới quyền chỉ huy của Trần Hưng Đạo, cánh quân của Trần Nhật Duật đã góp phần cùng quân và dân ta làm nên chiến thắng Bạch Đằng lịch sử, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ ba (1287-1288).
Như vậy, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật là một tướng trẻ trong kháng chiến chống Mông-Nguyên thứ hai và thứ ba, nhưng đã chứng tỏ được tài năng về quân sự, là một trong những trụ cột xuất sắc trong hàng ngũ tướng lĩnh triều Trần, chỉ huy quân sĩ chiến đấu dưới quyền vị tổng chỉ huy thiên tài Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Trần Nhật Duật đã tỏ rõ là một vị tướng có tài, chỉ huy quyết đoán, xử trí các tình huống chiến đấu linh hoạt, sắc sảo. Nỗ lực vượt qua điều kiện khó khăn, hiểm nghèo, giữ vững quyền chủ động, phản công kịp thời, kiên quyết và liên tục, giành thắng lợi vẻ vang.
Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP