Theo di nguyện của nhà văn Nguyệt Tú, con gái danh họa Nguyễn Phan Chánh, giải thưởng này sẽ được trao hằng năm để nâng bước các tài năng hội họa của Việt Nam vươn ra thế giới, bước tiếp con đường họa sĩ Nguyễn Phan Chánh đã mở ra cho tranh lụa Việt Nam.

Người mở đường cho tranh lụa Việt Nam

Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh sinh năm 1892, tại vùng quê nghèo nổi tiếng hiếu học Thạch Hà, Hà Tĩnh. Cha ông là thầy đồ nghèo. Ông học chữ Hán-Nôm, đi học Quốc ngữ và Pháp ngữ ở trường tiểu học kiểu mới.

Chưa được 10 tuổi thì cha ông mất, mẹ chưa tới tuổi 25. Bà ở vậy nuôi dạy các con lớn khôn, được vua ban danh hiệu “Tiết hạnh khả phong”. Gia đình ông sống rất khó khăn. May mắn, ông biết và ham vẽ từ 5, 6 tuổi. Lúc 10, 11 tuổi, ông đã vẽ tranh dân gian, như các tác phẩm: “Lý ngư vọng nguyệt”, “Tiến sĩ đăng khoa”... bán ở chợ phiên, phụ giúp mẹ.

Năm 1922, học xong ở Trường Quốc học Huế, ông đi dạy học. Những năm này, ông vẫn đam mê vẽ tranh và nghệ thuật thư pháp. Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (nay là Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam) thành lập, do họa sĩ Victor Tardieu (1870-1937) làm Hiệu trưởng đầu tiên và mở kỳ thi tuyển sinh. Lúc đó, ông đã dạy học được 3 năm, vợ đang mang thai con đầu lòng, cuộc sống gia đình yên ổn. Nhưng đam mê hội họa thôi thúc, ông quyết tâm dự thi với bức tranh đàn cò trắng bay trên cánh đồng lúa và ông là thí sinh duy nhất xứ Trung Kỳ đỗ vào trường, khóa 1 (1925-1930).

leftcenterrightdel
Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh (1892-1984). Ảnh do gia đình cung cấp

Vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở tuổi 33, ông  lớn tuổi nhất lớp. Bạn học xem ông như họa sĩ nhà nghề, trọng ông về Nho học. Ông được bạn bè quý mến vì tốt bụng, thẳng thắn. Đa phần bạn học của ông trẻ trung, xuất thân từ gia đình khá giả. Tranh vẽ thời đó theo xu hướng “thời thượng” với salon Tây sang trọng, người mẫu tân thời, áo dài lụa bên hoa, màu sắc rực rỡ... Suốt 5 năm, ông vẫn là chàng “dân quê” đi học, luôn hướng về quê xa Hà Tĩnh, nơi mẹ già, vợ trẻ và con thơ trông ngóng mỗi ngày. Người mẫu trong tranh của ông là cô gái làng, áo quần giản dị, màu nâu sồng đậm chất quê hương.

Nguyễn Phan Chánh đã thử nghiệm nhiều thể loại tranh, có sơn dầu, sơn mài, lụa. Cuối cùng, ông gắn bó với tranh lụa. Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh, tiêu biểu là tác phẩm “Chơi ô ăn quan” đã gây tiếng vang lớn ở Hội chợ đấu xảo Paris năm 1931, đưa ông trở thành người mở đường và đặt nền tảng cho nghệ thuật tranh lụa Việt Nam. Thời đó, giới phê bình nghệ thuật Pháp đã đánh giá: “Tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh là những kiệt tác thuần túy... những sắc thái tinh tế nhất của cuộc sống... khắc họa qua cái nhìn của một họa sĩ luôn hướng về cội nguồn... với một kỹ thuật điêu luyện... Nguyễn Phan Chánh đã tạo ra mỹ thuật Đông Dương. Trước ông, chưa từng có lối vẽ nào như vậy”. Bắt đầu từ Nguyễn Phan Chánh, tranh lụa trở thành thể loại mang tính biểu tượng, đặc trưng cho nghệ thuật hội họa Việt Nam và chiếm phần lớn trong số tranh của họa sĩ Việt Nam ở các cuộc đấu giá quốc tế.

Sắp xếp các mảng màu là phong cách nghệ thuật độc đáo của tranh lụa Nguyễn Phan Chánh. Một mặt, kích thước và bố cục các mảng màu khá tuân thủ luật xa-gần của hội họa Tây phương, tạo nên 3 chiều “chìm” trong tranh. Mặt khác, họa sĩ chọn màu và sắc độ màu theo luật nóng-lạnh Đông phương, tạo ấn tượng hài hòa, tựa như có thêm “chiều không gian màu” trong tranh. Ông thường có bài thơ hoặc vài chữ viết “thảo” của Hán-Nôm “điểm xuyết” trên tranh, tạo thêm cảm xúc riêng biệt khi ngắm tranh.

Màu vẽ của tranh lụa là màu nước. Chất liệu lụa thì mỏng mảnh. Màu nước ở tranh lụa không tạo ra “cục màu” nổi lên như ở tranh sơn dầu hoặc “miếng màu” miết chìm sâu như ở tranh sơn mài. Đặc điểm về màu nước trên chất liệu lụa là một khó khăn lớn khi định hình màu ở tranh, xét cả về sắc màu theo ý người vẽ và độ bền màu theo thời gian. Bằng thử nghiệm cần mẫn, họa sĩ Nguyễn Phan Chánh đã phát kiến ra kỹ thuật vẽ-rửa độc đáo của riêng mình.

Trước tiên, ông vẽ màu nước lên mảng để tạo màu. Sau đó, ông dùng bút rửa nhẹ cho hết cặn, chỉ còn màu đọng lại. Khi mảng đã khô, ông vẽ tiếp màu lên, rồi lại rửa... Ông vẽ-rửa hàng chục lần, kéo dài hàng tháng, tới khi đạt sắc màu như ý. Lúc đó, màu không chỉ “vẽ vào, bám vào” mà được “nhuộm vào” thớ sợi lụa. Kỹ thuật này cần sự kiên tâm, khéo léo và tinh tế của người vẽ. Khi phục hồi tranh của ông, chuyên gia Nhật Bản dùng kính hiển vi soi, thấy sợi lụa đã biến màu hoàn toàn, không còn màu lụa gốc. Phát minh vẽ-rửa đặc sắc này đã và đang được truyền dạy gần trăm năm nay, là một nội dung cốt lõi về kỹ thuật vẽ lụa trong giáo trình của Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam.

Vượt lên gian khó

Năm 1929, khi còn học ở trường, Nguyễn Phan Chánh dự thi vẽ tem và thắng giải nhất với tranh “Người đi cấy” cho con tem Đông Dương đầu tiên. Giải trị giá 90 đồng. Hồi đó, 3 đồng mua được 1 yến gạo. Sau khi tốt nghiệp, ông làm giáo viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Năm tiếp sau, ông về Trường Bưởi (nay là Trường THPT chuyên Chu Văn An, Hà Nội) dạy hội họa. Có lương tháng 100 đồng, ông đưa cả nhà lên Hà Nội, gia đình sống sung túc, có tới 3 người giúp việc.

Ở một triển lãm tranh, Tổng giám thị người Pháp của trường rất thích tranh “Hai chị em” của Nguyễn Phan Chánh, nhưng đã có người mua. Ông ta đòi họa sĩ vẽ lại bức này. Ông trả lời: “Tôi không phải thợ ảnh”. Sau đó, có người khuyên ông xin lỗi. Ông cười nhạt: “Tôi có lỗi gì mà phải xin”. Sau va chạm đó, ông nói với vợ con: “Bể niêu rồi” và đưa cả nhà về lại Hà Tĩnh, dù chưa bị trường sa thải. Ở quê nhà, ông vẽ nhiều bức tranh đẹp, như: “Trốn tìm”, “Đám rước”, “Công chúa hoa dâm bụt”... và tự tổ chức triển lãm cá nhân ở Hà Nội. Năm 1933, một công ty Mỹ muốn đài thọ ông và cả nhà sang Mỹ lâu dài. Ông từ chối, nói với vợ: “Làm sao bỏ quê hương đi được. Mà vẽ cái chi?”.

leftcenterrightdel

Tranh “Trốn tìm” (năm 1939) đã được phục hồi, thiếu nữ ngồi là Nguyệt Tú - con gái họa sĩ Nguyễn Phan Chánh.

Do Chiến tranh thế giới thứ hai nên không còn khách mua tranh, ông đi vẽ truyền thần ở thôn quê nuôi mẹ, vợ và 6 con. Ông thường nhận thù lao bằng gạo, khoai, sắn. Có hôm về đến nhà không còn gì vì túi thủng rơi hết. Bữa ăn gia đình lúc cơm, lúc ngô, sắn, bí đỏ.

Trong Cách mạng Tháng Tám, con gái đầu Nguyễn Nguyệt Tuệ (nhà văn Nguyệt Tú sau này) tham gia giành chính quyền ở Hà Tĩnh rồi làm Phó bí thư Hội Phụ nữ Cứu quốc tỉnh. Ông hăng hái vẽ tranh cổ động, là Ủy viên Thường vụ Hội Văn hóa Cứu quốc. Giữa kháng chiến, vợ ông mất, các con còn đi học, con gái út mới 7 tuổi. Như bao gia đình Việt Nam, nhà ông sống rất kham khổ.

Hòa bình lập lại, được gia đình động viên, ông trở về Hà Nội sau nhiều đêm suy nghĩ, trăn trở. Ông dạy ở Trường Mỹ thuật trung cấp (nay là Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam) ít năm, vẽ trở lại ở tuổi gần 70, sau 15 năm không cầm bút vẽ nghệ thuật. Kiên tâm mấy năm liền, đầu thập niên 1960, nghệ thuật tranh lụa đặc sắc được ông tái sinh với các tác phẩm nổi tiếng như: “Rê lúa”, “Tắm ao”, “Sau giờ trực chiến”, “Tổ đan mây”, “Chăn vịt”... và vẫn là chủ đề phụ nữ.

Suốt gần 20 năm, nhiều kiệt tác tranh được ông vẽ trong căn phòng 14m2 (ở gác 2, nhà 65 Nguyễn Thái Học, Hà Nội). Đây là nơi ở, thư viện của ông và hai con, cũng là studio vẽ của ông. Chỗ ở bé nhỏ này có dàn cây cảnh xếp hàng ngoài ban công và dãy lồng chim họa mi treo ở trên. Trong phòng còn có hòn non bộ xinh xắn với năm ba anh gánh củi, câu cá... bé xíu bằng gốm. Tiếng chim hót, cây xanh, hòn non bộ... gợi cảnh nhà xưa ở quê Hà Tĩnh, hồi đó gọi là Đào mai trang. Dịp Tết, căn phòng còn nhỏ thêm bởi một cành đào hồng lớn và nhiều hàng xóm chờ xin chữ.

Giai đoạn này, ông tích cực tham gia công tác, là đại biểu cao tuổi nhất tại Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III và là đại biểu Quốc hội khóa III. Gia đình kể lại, ông thường rong ruổi đạp xe trên đường, lúc đi vẽ ký họa, lúc đi gặp cử tri trong những năm miền Bắc bị ném bom.

Ở tuổi 80, ông quay về cội nguồn dân tộc với một loạt tác phẩm như: “Tiên Dung”, “Kiều”, “Tiên Dung và Chử Đồng Tử”. Ông ra đi ở tuổi 92, khi tác phẩm cuối cùng “Thạch Sanh cứu công chúa” vẫn còn dang dở...

TS NGUYỄN QUANG THẮNG