Vang vọng Lời kêu gọi... của Bác Hồ
Cho đến hôm nay, tiểu sử của nhà thơ Hồng Nguyên vẫn chưa có sự thống nhất. Lý do cũng dễ hiểu, chủ yếu do chiến tranh làm thất lạc giấy tờ, hay di chuyển đơn vị... Theo Từ điển văn học (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1983), ông tên thật là Nguyễn Văn Vượng, sinh năm 1924, mất năm 1954 (có tài liệu ghi là năm 1951) vì trọng bệnh khi đang làm Trưởng ty Văn hóa (hoặc Ty Thông tin tuyên truyền) tỉnh Thanh Hóa. Ông quê ở huyện Đông Sơn (Thanh Hóa). Nhà nghèo, chưa học hết trung học, Hồng Nguyên phải đi làm gia sư kiếm sống. Sớm giác ngộ cách mạng, sau năm 1945, ông gia nhập Quân đội và làm công tác văn nghệ, làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn hóa cứu quốc Liên khu 4 (năm 1946). Bài thơ “Nhớ” được ông sáng tác năm 1948, đoạt giải nhất cuộc thi do Chi hội Văn nghệ Liên khu 4 tổ chức. Bài thơ được giới nghiên cứu xếp vào một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945-1975.
Trong khuôn khổ bài viết này, xin tìm hiểu “Nhớ” như là một bức tranh trung thực về những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp vô cùng vẻ vang của quân và dân ta. Qua các chi tiết, có thể hình dung cụ thể các sự kiện, dấu mốc tiêu biểu của những tháng năm vĩ đại.
    |
 |
| Bộ đội Liên khu 1 chiến đấu bảo vệ Thủ đô Hà Nội, tháng 12-1946. Ảnh tư liệu |
Ngày 19-12-1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi, khích lệ quân và dân ta quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trở lại. Nghe lời Bác, cả dân tộc đứng lên kháng chiến, hầu như chỉ bằng hai bàn tay trắng. Tất nhiên bộ đội là lực lượng chủ yếu, nhưng từ trang phục đến vũ khí cũng hết sức đơn giản: “Lũ chúng tôi/ Bọn người tứ xứ/ Gặp nhau hồi chưa biết chữ/ Quen nhau từ buổi “một hai”/ Súng bắn chưa quen/ Quân sự mươi bài”. Có thể vì mới vào bộ đội, lại thiếu súng, nên “Súng bắn chưa quen”. Thế nên “Lột sắt đường tàu/ Rèn thêm dao kiếm”. Bộ đội ngày ấy chủ yếu từ nông dân “tứ xứ” tập hợp lại thành đơn vị, về hình thức, hình dáng bên ngoài, vẫn là anh nông dân: “Áo vải chân không”.
Ngày 16-1-1947, Bác Hồ viết Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến: “Bây giờ ta phải phá đi, để chặn Pháp lại, không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng”(1). Câu thơ “Lột sắt đường tàu” nói lên rất nhiều ý nghĩa: Vừa để ngăn quân Pháp-một cách “tiêu thổ kháng chiến”, vừa nói lên cảnh thiếu thốn trang bị, bộ đội phải “tự lực cánh sinh”, tự đi tìm kim loại, tự rèn vũ khí đánh giặc. Chỉ 4 chữ nhưng gói trong đó cả một giai đoạn lịch sử, cao hơn là cả một ý chí quyết tâm đuổi giặc vô cùng lớn lao.
Âm vang lời của Bác “Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước” vọng vào bài thơ. Ngoài hình tượng anh bộ đội kháng chiến, còn là “Ít nhiều người vợ trẻ/ Mòn chân trên cối gạo canh khuya”. Tức là trong số những người phụ nữ ở hậu phương, có nhiều người vợ có chồng ra trận, giã gạo suốt đêm để gửi gạo ra tiền tuyến. Có những người “mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa”. Từ trước năm 1945, do phải sống trong cảnh “một cổ hai tròng”, bị áp bức, bóc lột hết sức nặng nề, cuộc sống nhân dân quá nghèo khổ, lam lũ nên xuất hiện loài bọ ký sinh sống trong quần áo hút máu người. Câu thơ không chỉ đúng với lịch sử mà còn nói lên sâu sắc tình cảm quân dân cá nước. Dân coi bộ đội như con cái. Bộ đội coi dân như cha mẹ. Câu thơ đó chỉ có ở thời ấy, đúng với nghĩa đặc sắc, độc đáo.
Quân dân cá nước - đồng chí thủy chung, trong sáng
Ngày 22-12-1944, theo chỉ thị của Bác Hồ, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính thức ra đời. Ngày 15-5-1945, Đội sáp nhập với Cứu quốc quân, đổi tên thành Việt Nam Giải phóng quân. Ngày 22-5-1946, Bác Hồ ra Sắc lệnh số 71/SL, quy định Quân đội của Việt Nam là Quân đội Quốc gia, tổ chức biên chế từ tiểu đội đến trung đoàn... Đúng với phương châm cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, để phát triển Quân đội mạnh hơn, Đảng ta coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị. Ngoài nhiệm vụ đánh Pháp, Quân đội còn làm nhiệm vụ tuyên truyền, huấn luyện cho dân quân, du kích. Ở thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến, tư tưởng “chính trị trọng hơn quân sự”, nhiệm vụ tuyên truyền của Quân đội rất được chú ý. Trong bài thơ, những câu thơ như bám chặt vào đời sống để “chắt” ra những câu chữ mang “linh hồn” của đời sống: “Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động/ Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng/ Đã nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng...”. “Lưu động” để sống trong dân, dân nuôi. Cơ bản hơn là làm nhiệm vụ “tuyên truyền” và “huấn luyện”. Trong các lớp tuyên truyền, các buổi huấn luyện, bộ đội làm nòng cốt nên có “Khai hội, yêu cầu, chất vấn” là rất thật.
“Gặp nhau hồi chưa biết chữ” là hồi nào? Sau ngày 2-9-1945, Bác Hồ và Đảng ta chủ trương “diệt giặc đói”, “diệt giặc dốt”. Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến và kiến quốc”, trong đó có “tổ chức bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ...”(2). Với phương châm “người biết bảo cho người chưa biết, người biết nhiều bảo cho người biết ít”, phong trào “bình dân học vụ” mở rộng trong toàn dân, ở các đơn vị bộ đội càng được chấp hành triệt để, đem lại kết quả tốt đẹp. Phản ánh sự kiện này, bài thơ có hai câu: “Đồng chí nớ vui vui/ Đồng chí nớ dạy tui dăm ba chữ” là hoàn toàn đúng với thực tế.
Vượt lên mọi khó khăn, gian nan, thiếu thốn là tinh thần quyết tâm ngút trời của đội quân cách mạng. Đó là tư tưởng, là tinh thần chủ động tìm giặc mà đánh: “Đi lùng giặc đánh”. Là tinh thần lạc quan, mà chỉ qua một câu thơ đã thấy như chiến thắng đang đến rất gần: “Lòng vẫn cười vui kháng chiến”.
Tên tác phẩm luôn là một ký hiệu để giải mã nội dung. Tên bài thơ là “Nhớ”, tức sáng tác ở thời điểm hiện tại nói về nội dung sự kiện đã qua trong quá khứ, như bài thơ viết là: “Ba năm rồi gửi lại quê hương”. Tức từ năm 1948 trở về năm 1945, là đúng “ba năm”. “Nhớ” về rất nhiều sự kiện, nhưng hai dấu son sâu đậm, hai sợi chỉ đỏ xuyên suốt thi phẩm là mối tình quân dân. Trong không gian quê hương, có “Mái lều gianh/ Tiếng mõ đêm trường/ Luống cày đất đỏ”... là “mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa”; là “ít nhiều người vợ trẻ...”, là “o thôn nữ cuối nương dâu”... Là tình đồng chí: “Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng”. Là “Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa”, trong thiếu thốn, chăn không đủ đắp, nhưng thật ấm bởi được “đắp” bằng tình đồng chí.
Cuối bài thơ là hình ảnh đội dân quân du kích đưa tiễn, cảnh giới để bộ đội ra đi, cũng thật ấm áp vô cùng: “Đêm đó chúng tôi đi/ Nòng súng nghiêng nghiêng/ Đường mòn thấp thoáng/ Trong điếm nhỏ/ Mươi người trai tráng/ Sờ chuôi lựu đạn/ Ngồi thổi nùn rơm/ Thức vừa rạng sáng/ Nhìn trời sương nhẩm bước chúng tôi đi...”. Mối tình quân dân sống mãi, sáng mãi, vững bền mãi mãi.
Không hề có một “hư cấu” của phép “làm thơ”. Không hề có sự “lên gân” hay “gia công” của nghệ thuật miêu tả. Bài thơ vẫn sẽ sống mãi cùng lịch sử, vì đã vẽ nên bức tranh trung thực thời kỳ đầu cuộc kháng chiến, bằng ngôn ngữ thơ chất phác, đôn hậu của tấm lòng người lính.
PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ
(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tập 5, H.2002, tr.25
(2). Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tập 8, H.2000, tr.28