Trong số các học viên khóa đầu tiên, nay chỉ còn họa sĩ Ngọc Linh, sinh năm 1930, tên thật là Vi Văn Bích, hiện sống tại phố Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa (Đống Đa, Hà Nội). Mặc dù đã hơn 90 tuổi nhưng khi kể về khóa học đầu tiên mở giữa núi rừng Việt Bắc, họa sĩ Ngọc Linh vẫn nhớ những kỷ niệm thân thương, gần gũi: “Một tháng, mỗi học viên được Chính phủ cấp cho 20kg gạo quy ra tiền để nhà bếp mua gạo và nấu ăn. Nhưng không phải lúc nào số lượng ấy cũng được chu cấp đều đặn trong những năm kháng chiến thiếu thốn và gian khổ. Chính vì thế, việc quan trọng là bằng mọi cách phải duy trì được cuộc sống tối thiểu cho các học viên. Vợ thầy Tô Ngọc Vân (Hiệu trưởng đầu tiên của nhà trường) thường xuyên phải ứng tiền mua thóc, gạo, sắn cho học viên khi học bổng về muộn”.
Họa sĩ Ngọc Linh tham gia kháng chiến từ năm 16 tuổi, ở Chiến khu Việt Bắc. Trong thời gian làm việc tại Xưởng phim Hà Nội (nay là Hãng Phim truyện Việt Nam), ông là họa sĩ thiết kế cho 25 bộ phim, trong đó có nhiều phim nổi tiếng của giai đoạn đầu dòng phim cách mạng Việt Nam như: “Chung một dòng sông” (1959), “Vợ chồng A Phủ” (1961), “Sao Tháng Tám” (1976)... Nhớ về thời mẩu chì than cũng quý như vàng, họa sĩ Ngọc Linh kể: “Trường lưu động từ Thái Nguyên đến Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ. Chúng tôi mơ ước có giấy để vẽ. Khi hòa bình, được vẽ trên tờ giấy học sinh thấy thích quá, chứ trước đó chỉ có giấy bản, giấy báo, vẽ bột màu không cẩn thận là thủng ngay. Các học viên phải cắt lông đuôi ngựa, buộc vào đầu đũa thay bút. Màu vẽ thì lấy từ đít chảo hoặc gạch vụn...”.
Tiến sĩ, kiến trúc sư Tô Thị Toàn (con gái họa sĩ Tô Ngọc Vân) nhớ lại những ký ức về gia đình mình: “Thời điểm trường vừa thành lập, khó khăn chồng chất khó khăn, nhiều ngôi trường phải đóng cửa, khóa mỹ thuật kháng chiến cũng vậy. Nhưng mẹ tôi-bà Nguyễn Thị Hoàn-lúc ấy đã đem hết số vàng mang theo đi tản cư, bán lấy tiền nuôi học viên, duy trì hoạt động của nhà trường. Tôi nghe mẹ kể, các bữa cơm đều đạm bạc. Khi cơm chín, nhà bếp đơm vào miệng bát tô rồi úp từng phần lên mâm bằng lá chuối cho từng người, thức ăn là rau muống luộc chấm nước muối, còn nước rau thì lấy quả dọc nướng lên đánh giấm. Thế là cả lớp xì xụp ăn, sau đó quây quần tập vẽ. Cứ như vậy, khóa học nhanh chóng trôi qua, tuy ăn chưa no nhưng mọi người đều vui vẻ, yêu đời và hăng hái đi vẽ”.
Ngày 17-6-1954, chỉ sau Chiến thắng Điện Biên Phủ 40 ngày, họa sĩ Tô Ngọc Vân đã ngã xuống khi trở về từ chiến dịch. Lúc ấy, cô bé Tô Thị Toàn lên 7 tuổi. Sau này, các học viên khóa mỹ thuật kháng chiến vẫn thường xuyên đến thăm gia đình họa sĩ Tô Ngọc Vân. “Trong câu chuyện với các học viên khóa kháng chiến, từ được nhắc đến nhiều là “đói” và “thiếu thốn”, nhưng họ đã vượt qua tất cả để sống và cống hiến. Có nhiều họa sĩ được phong hàm phó giáo sư, được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú”, Tiến sĩ, kiến trúc sư Tô Thị Toàn chia sẻ thêm.
Sự chăm lo chân thành, đầy tình cảm của thầy Hiệu trưởng Tô Ngọc Vân có giá trị lớn đối với các học viên, giúp họ hiểu hơn giá trị tình người trong khó khăn, đặc biệt là sự tin tưởng vào Đảng, đi theo cách mạng, toàn tâm kháng chiến. Sau khóa học đặc biệt ấy, mỗi người theo nhiệm vụ phân công của tổ chức có những vị trí công tác khác nhau. Khóa mỹ thuật kháng chiến đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, vẽ tranh, bày triển lãm động viên tinh thần yêu nước và ý chí chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao thị hiếu mỹ thuật của nhân dân. Thời nào cũng vậy, tư tưởng và thái độ sống của người thầy ảnh hưởng rất lớn đến học trò, nhất là trong hoàn cảnh học nghệ thuật hết sức đặc biệt của khóa mỹ thuật kháng chiến. Có thể nói, khóa học này thật sự may mắn khi được đồng hành với một người thầy như danh họa Tô Ngọc Vân.
Từ những học viên năm ấy, khi đất nước hòa bình trở lại, họ đã trở thành lực lượng chính đảm nhiệm nhiều công việc mỹ thuật của các ngành, đồng thời vẫn say mê sáng tác, góp sức mình vào diện mạo chung của mỹ thuật cách mạng Việt Nam.
NGUYỄN HUYỀN