Lịch sử hào hùng

Tiểu đoàn 470 Tỉnh đội Khánh Hòa chúng tôi nguyên là Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 12, Sư đoàn 3, Quân khu 5. Trung tuần tháng 7-1970, Tiểu đoàn 7 chúng tôi được tách ra khỏi sư đoàn để tăng cường cho Khánh Hòa, một tỉnh cực Nam Trung Bộ. Sau khi đơn vị chúng tôi có mặt ở chiến trường mới, địa bàn hoạt động được xác định là Bắc Khánh, gồm hai huyện Vạn Ninh và Ninh Hòa, nơi đứng chân là căn cứ Đá Bàn.

Đá Bàn là tên của một dòng sông bắt nguồn từ trên các dãy núi cao. Nước sông Đá Bàn chảy về vịnh Nha Phu rồi đổ ra Biển Đông. Con sông này khi chảy qua Ninh Hòa lại được đổi tên là sông Dinh. Chiến khu Đá Bàn thuộc xã Ninh An, huyện Ninh Hòa. Địa giới hành chính được xác định từ thôn Hà Thanh (ngã 3 xuống cảng Hòn Khói ngày nay) chạy thẳng lên phía tây, giáp với huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên). Trừ một số thôn ở đồng bằng, diện tích còn lại là rừng nguyên sinh, núi non hiểm trở. Địa thế vùng này được bao quanh bởi một nhánh của dãy Trường Sơn ăn lan ra biển. Từ Hòn Vọng Phu (cao 2.051m), mạch núi này chạy theo hướng Đông Bắc ra tận đèo Cả, giáp với địa phận tỉnh Phú Yên. Xã Ninh An sau này được tách làm đôi, khu vực Đá Bàn có tên mới là xã Ninh Sơn, có hồ thủy lợi được xây dựng sau ngày giải phóng.

Do vị trí đặc biệt của Chiến khu Đá Bàn nên trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, kẻ thù đã tìm đủ cách để đánh phá. Tháng 4-1953, hơn 4.000 quân Âu Phi chia làm hai mũi, tấn công căn cứ Đá Bàn và đã thất bại thảm hại. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là từ tháng 9-1966 đến tháng 1-1973, Đá Bàn là mục tiêu “tìm diệt” của sư đoàn Bạch Mã (Nam Triều Tiên). Sau khi có mặt ở Ninh Hòa, đội quân này đã chọn núi Ổ Gà, thôn Hà Thanh, xã Ninh An đặt sở chỉ huy. Là một đội quân nhà nghề, nhìn cách xây dựng đồn bốt, trận địa pháo để bao vây căn cứ của ta cũng đủ biết tiềm lực quân sự của đối phương là rất lớn. Ban đêm, cách xa cả cây số nhưng chúng tôi vẫn thấy trên các mỏm đồi, nơi có quân địch, điện sáng như một khu phố. Từ các đồn đến trận địa pháo tuy cách xa, để sẵn sàng chi viện cho nhau khi có tình huống xảy ra, chúng đã ủi trống nhiều vạt rừng. Từ ngày có mặt của đội quân chư hầu này, nhiều bãi rừng hoang trước đây, nay bỗng nhiên có thêm cái tên mới như ngã ba Đại Hàn, đồn Đại Hàn...

Kẻ địch “đánh hơi” biết trong căn cứ có thêm một lực lượng mới đến là đơn vị chúng tôi nên chúng mở nhiều cuộc hành quân càn quét. Có những trận càn kéo dài hàng tháng trời... nhưng cuối cùng chúng cũng thất bại và phải rút khỏi nơi này sau Hiệp định Paris.

Đánh thức tiềm năng

Thời gian dù đã lùi xa nhưng chiến khu xưa vẫn còn đó những dấu tích kiêu hùng năm nào. Nhiều lần trở lại Khánh Hòa thăm lại chốn cũ, những cựu chiến binh Tiểu đoàn 7 chúng tôi cảm thấy tiếc nuối khi lâu nay, ngành “công nghiệp không khói” của tỉnh vẫn chủ yếu khai thác các sản phẩm du lịch từ biển, đảo. Thiết nghĩ trong tương lai, ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa nên tính tới việc tổ chức các tour du lịch, có thể chọn chủ đề “Theo dấu chân người lính” để trở về Chiến khu Đá Bàn xưa.

leftcenterrightdel
 Bia di tích căn cứ kháng chiến Đá Bàn. Ảnh tư liệu của Hội Cựu chiến binh tỉnh Khánh Hòa

Trong hai cuộc kháng chiến, tỉnh Khánh Hòa đã xây dựng được một số căn cứ địa: Đồng Bò (Nha Trang), núi Ba Cụm (Khánh Sơn), Hòn Dù (Khánh Vĩnh), Hòn Dữ (Diên Khánh). Tuy nhiên, chiến khu Đá Bàn là khác biệt, do núi cao, đường đi khó khăn, cho đến hôm nay vùng rừng núi này vẫn còn hoang sơ, không có dân cư sinh sống. Những người có mặt ở chiến khu Đá Bàn năm xưa, nay đã trở về cuộc sống đời thường. Số đông là người của các địa phương Ninh Hòa, Vạn Ninh và TP Nha Trang. Để tái hiện cuộc chiến đấu ngày ấy ở chiến khu huyền thoại này không mấy khó khăn. Ngành du lịch tỉnh nên phối hợp với các cựu chiến binh đã từng có mặt ở chiến khu ngày ấy. Đây cũng là một cách để đa dạng hóa các loại hình du lịch của tỉnh nhà trong tương lai. Chúng ta chỉ cần đặt mấy chục cây cờ hiệu, cho những người lần đầu mới đến biết nơi làm việc của cơ quan lãnh đạo tỉnh, các đơn vị chuyên môn: Kinh tài, binh vận, quân bưu, quân giới, an ninh, quân y, bệnh xá... và cả những trận kịch chiến giữa quân ta với quân địch trong vùng đất tưởng như thanh bình này. Tôi thực sự ấn tượng đặc biệt với những người làm công tác binh vận ở Đá Bàn ngày ấy.

Sau khi sư đoàn Bạch Mã có mặt tại Ninh Hòa, cấp trên đã điều động một số đồng chí được đào tạo tiếng Hàn tham gia Ban binh vận. Công việc của các đồng chí ấy là viết truyền đơn bằng tiếng Hàn, rồi in ly-tô ra nhiều bản. Số truyền đơn ấy đã được các đội công tác vũ trang địa phương rải ngoài hàng rào của căn cứ địch. Công việc này kéo dài tới cuối tháng 1-1973, khi Hiệp định Paris có hiệu lực mới kết thúc. Ấn tượng thứ hai là Ban kinh tài tỉnh đã lập được một đường dây từ chiến khu với cơ sở bí mật tại thị xã Nha Trang để chuyển đổi ngoại tệ ra tiền Việt. Nguồn ngoại tệ này từ miền Bắc chuyển vào qua đường Trường Sơn để chi viện cho các chiến trường, trong đó có tỉnh Khánh Hòa. Hồi bấy giờ, tuy gọi là hai vùng, nhưng vùng do mặt trận kiểm soát và vùng do chính quyền Sài Gòn tạm thời quản lý cũng dùng chung một loại tiền. Các nhu cầu thiết yếu ở chiến khu, như: Thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm luôn phải có một lượng dự trữ tối thiểu. Nhờ tài trí của mình, ngành kinh tài tỉnh đã làm được một việc tưởng như không thể làm nổi và đã thành công. Nơi đây, có cả những câu chuyện thật lãng mạn. Giữa đại ngàn Trường Sơn, khi cuộc chiến vừa im tiếng súng, một số cặp tình nhân đã tổ chức ngày hạnh phúc, rồi họ nên vợ, nên chồng. Sự sống và cái chết ngày ấy chỉ trong gang tấc nhưng cũng không thể ngăn cản tình yêu đôi lứa.

Để tận mắt ngắm cảnh thiên nhiên độc đáo nơi đây, nên mở một số lối vào trong căn cứ mà không ảnh hưởng đến cảnh quan, tức là không được dùng phương tiện cơ giới. Cách di chuyển tốt nhất là giống như người lính chúng tôi ngày xưa vậy. Từ trung tâm căn cứ, chúng tôi có thể đi lại một cách bình thường, để đến: Hướng bắc là Dốc Mỏ, hướng đông Hòn Hèo, hướng nam chân đèo Phượng Hoàng, nơi có cầu Suối Chình (xã Ninh Tây). Từ trong chiến khu ngày ấy đã hình thành một con đường giao liên chạy song song với Đường 21, lên tận kho hàng của Đoàn 559 tại huyện Ea Súp, tỉnh Đắc Lắc mà chúng tôi đã từng đặt chân đến. Các ngả đường để đến Chiến khu Đá Bàn xưa là khá phong phú nhưng đoạn đường tiện lợi hơn cả là từ Ngã tư Đá Bàn-Hòn Khói-Quốc lộ 1, gần ga Hòa Huỳnh. Từ đây vào đến thung lũng Đá Bàn hơn 10km, qua hồ thủy lợi cùng tên, là khách du lịch tha hồ khám phá.

PHAN TRỌNG HÙNG