Thành phố Nampula là thủ phủ của tỉnh Nampula rộng lớn, miền Bắc Mozambique. Nơi đây có sân bay quốc tế nối liền với thủ đô Maputo ở phía Nam, là cửa ngõ (đường không) đi sang các nước láng giềng phía Bắc như Tanzania, Malawi. Sau ngày thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Bồ Đào Nha, Mozambique thiếu cán bộ ở tất cả các ngành chuyên môn. Vì vậy những năm 80 của thế kỷ trước, nhiều cán bộ y tế, giáo dục, nông nghiệp Việt Nam sang làm việc tại Mozambique. Từ năm 1986 đến 1990, tôi là chuyên gia giáo dục đến Nampula dạy môn Hóa học tại trường Pre-universitario Primero de Maio (Trường THPT mồng 1-5) và được Đại sứ Việt Nam tại Mozambique chỉ định làm  trưởng nhóm chuyên gia giáo dục và y tế tại Nampula. Về phía bạn, tôi được coi là Trưởng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Nampula.

Cuối năm 1987, trước khi kết thúc kỳ nghỉ hè ở thủ đô Maputo, ông Hùng (Đại sứ Việt Nam tại Mozambique thời điểm đó) giao cho nhóm chúng tôi một số phim tài liệu và phim truyện để đem về chiếu tại TP Nampula. Trong đó có phim tài liệu về chuyến thăm Việt Nam lần thứ hai của Tổng thống Mozambique Samora Machel và phim về Chiến thắng Điện Biên Phủ.

leftcenterrightdel
Tác giả (ngồi thứ ba, hàng đầu, từ trái sang) với chuyên gia các nước dự mít tinh đón tổng thống đến thăm Nampula, năm 1988.

Về tới Nampula, chúng tôi tổ chức chiếu thử hai phim tài liệu trên. Khách mời xem rất ít, chỉ có ông Chủ tịch Hội Hữu nghị các dân tộc ở Nampula, đại diện Công ty Điện ảnh Nampula, một số chuyên gia Liên Xô cùng công tác ở Nampula. Sau khi xem phim xong, mọi người rất cảm động, bày tỏ lòng khâm phục quân đội và nhân dân Việt Nam. Riêng ông Chủ tịch Hội Hữu nghị các dân tộc ở Nampula lúc đó là Tỉnh ủy viên tại Nampula, đã từng đi học chính trị ở CHDC Đức và rất có cảm tình với nhân dân Việt Nam, đã bàn với tôi là nên mời ông Bí thư Tỉnh ủy Nampula đến xem hai phim này. Sau khi sắp xếp được thời gian, Bí thư Tỉnh ủy Nampula chuyển lời mời tôi tới thăm ông.

Xin nói thêm rằng ở Mozambique và nhiều nước châu Phi khác, tổng bí thư đảng cầm quyền thường kiêm chức tổng thống. Và cũng như vậy, ông Bí thư Tỉnh ủy Nampula cũng là Tỉnh trưởng Nampula. Một mình ông điều hành cả hai cơ quan Văn phòng Tỉnh ủy và cơ quan hành chính tỉnh Nampula.

Bí thư Tỉnh ủy Nampula tiếp tôi tại Văn phòng Tỉnh ủy. Sau lời giới thiệu của ông Chủ tịch Hiệp hội hữu nghị các dân tộc, tôi đưa ra lời mời ông tới dự buổi chiếu hai phim tài liệu trên. Ông tỏ ý rất hoan nghênh và nhận lời tới xem phim. Trong cuộc nói chuyện, tôi rất cẩn thận trong lời nói, luôn gọi ông là ngài. Ngược lại, ông tỏ ra rất thân mật với tôi, gọi tôi là “đồng chí” và quyết định rằng nhân có cuộc họp các cán bộ chủ chốt từ cấp quận, huyện trở lên, tất cả các đại biểu sẽ dành một buổi tối đi xem hai phim trên.

Buổi chiếu phim được tiến hành tại một rạp chiếu bóng đẹp nhất TP Nampula. Mãi 8 giờ tối mới chiếu nhưng từ 6 giờ chiều, cảnh sát đã đến canh gác nghiêm ngặt cả trong và ngoài rạp. Đúng 7 giờ tối thì cấm đường, cảnh sát chặn hai đầu đoạn đường, không cho xe cộ và người dân qua lại. Các đại biểu phải ngồi trong rạp từ trước 7 giờ 30 phút và phải xuất trình phiếu vào cửa do Văn phòng Tỉnh ủy cấp.

8 giờ tối, hai xe bảo vệ và ô tô chở ông Bí thư Tỉnh ủy và phu nhân dừng lại trước rạp, chỉ có tôi và ông Chủ tịch Hội Hữu nghị các dân tộc ra tận xe ô tô chào đón rồi cùng đi với Bí thư Tỉnh ủy tiến vào rạp giữa hai hàng cảnh sát bồng súng đứng nghiêm. Khi mọi người đã an tọa, tôi được bố trí ngồi bên phải ông Bí thư để phiên dịch nội dung phim, còn phu nhân ngồi bên trái ông.

Cuốn phim tài liệu về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống S.Machel được chiếu trước. Cả rạp lặng đi khi nhìn thấy vị tổng thống kính yêu đang sống những giờ phút hân hoan đầy tình hữu nghị với các vị lãnh đạo và các tầng lớp nhân dân Việt Nam vừa hoàn thành cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ để đưa đất nước đến ngày độc lập thống nhất.

Khi tiếng nhạc mở đầu phim “Chiến thắng Điện Biên Phủ” vang lên, mọi người như chợt tỉnh dậy sau những phút hồi tưởng về vị tổng thống kính yêu đã đi xa. Họ thấy đất nước Việt Nam sao mà gần gũi và thân thương đến thế. Cùng đồng ruộng, núi non, sông suối như mình, cùng những quả cam, chuối, mít, dừa như ở xứ sở này. Cùng những cảnh quê hương làng mạc bị tàn phá, người dân bị đọa đày giống như những cảnh mà thực dân Bồ Đào Nha đã gây ra trên đất nước Mozambique này triền miên hàng thế kỷ. Rồi hàng đàn máy bay sơn cờ ba sắc thả dù dày đặc cả cánh đồng rộng mênh mông. Những chiếc xe tăng to lớn quần nát những thửa ruộng lúa xanh mơn mởn. Những trái bom napalm trùm lửa lên những nóc nhà yên tĩnh, những khẩu pháo đồ sộ gào thét xé tan bầu không khí nơi biên giới xa xôi. Mọi người hồi hộp nín thở chờ xem Việt Nam sẽ ra đòn như thế nào để chống lại một đội quân nhà nghề hình như còn thiện chiến hơn cả bọn lính Bồ Đào Nha.

leftcenterrightdel
Tác giả với các em học sinh Trường THPT mồng 1-5 ở Nampula, năm 1987.

Con người Việt Nam đã đứng lên rồi. Những đoàn quân nhịp bước theo tiếng nhạc hùng tráng cứ dài thêm, đông thêm. Những chiếc thuyền chở đầy lương thực lao đi theo dòng sông cuộn chảy. Những đoàn người nườm nượp mang, vác, thồ, gánh, đẩy xe đạp chất đầy hàng hóa vội vã cuốn đi trong mưa gió. Kia rồi những chiếc xe ô tô ngụy trang kín mít chở đầy bộ đội và vũ khí đạn dược đã xuất hiện cùng những khẩu pháo kín lá ngụy trang. A! Việt Nam đã có đủ người, lương thực, vũ khí để đánh địch.

Mọi người hết sức tập trung chú ý để xem cách đánh của bộ đội Việt Nam. Đó là cảnh những chiến sĩ vác những ống thuốc nổ lao lên phá tung hàng rào dây thép gai để hàng nghìn chiến sĩ xông lên chiếm lĩnh trận địa. Nhưng cũng có những cảnh khán giả không hề nghĩ tới là cảnh bộ đội Việt Nam dùng tay không kéo những khẩu pháo lên đèo cao, dốc đứng để bất ngờ giáng những trận mưa đạn pháo vào đồn giặc. Rồi đến cảnh những khẩu pháo cao xạ giật giật liên hồi bắn rụng những con chim sắt trên bầu trời. Lại còn cảnh bộ đội Việt Nam đêm đêm bò sát hàng rào dây thép gai để đào hàng nghìn ki-lô-mét giao thông hào bao vây đồn giặc dưới làn đèn pha sáng rực và pháo bắn như giội lửa xuống lưng. Cách làm như vậy thật là khôn ngoan và dũng cảm chưa từng thấy trong cuộc chiến tranh nào trên thế giới.

Càng về cuối phim, không khí trong rạp ngày càng sôi động hơn. Mọi người bắt đầu bình luận với nhau về những cảnh oai hùng trên màn ảnh, nhất là khi lá cờ chiến thắng được phất lên trên nóc hầm chỉ huy trong tiếng reo hò của hàng vạn chiến sĩ trên khắp mặt trận. Mọi người vô cùng thích thú hả hê khi nhìn những tên lính thực dân cao to, mũi lõ, mặt mày nhem nhuốc, râu ria xồm xoàm, quần áo lôi thôi, không lon, không súng run rẩy vẫy những mảnh vải trắng cầu xin sự sống.

Và cả rạp không còn giữ gìn ý tứ trước sự có mặt của ngài Bí thư nữa, tất cả đều reo lên ngạc nhiên sung sướng khi nhìn thấy hàng nghìn tên tù binh lũ lượt kéo nhau đi dưới sự giám sát của các chiến sĩ Việt Nam. Đây là lần đầu tiên những người Mozambique, từng là nô lệ của thực dân Bồ Đào Nha, được nhìn thấy quân xâm lược bị bắt làm tù binh đông đến như vậy. Tất cả mọi người đều cảm thấy hân hoan vì Chiến thắng Điện Biên Phủ không phải chỉ là của riêng nhân dân Việt Nam mà là chiến thắng của nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới chống lại chế độ thực dân, đế quốc trên khắp hoàn cầu.

Kết thúc buổi chiếu phim, ông bà Bí thư Tỉnh ủy chào tạm biệt tôi và các quan khách trong rạp với lời nhận xét “Thật là kỳ diệu!”. Ông muốn nói câu này để mô tả Chiến thắng Điện Biên Phủ và ca ngợi lòng dũng cảm, trí thông minh của dân tộc Việt Nam.

TRẦN HỮU ĐỘ