Đến chân dãy Phu Đô Tuya, chúng tôi gặp bản Tà Lùng. Không một bóng người. Những ngôi nhà cháy và đồ vật cháy dở lăn lóc ngổn ngang. Theo như cán bộ tà xẻng (xã) nói, cách đây hơn một tháng, phỉ Lào đã tràn qua, đốt phá bản làng, phá hoại kho tàng của bộ đội 559 nhưng bị đánh trả, chúng đã bỏ chạy. Dân bản bỏ đi rồi, không có người dẫn đường, chúng tôi đành theo đường mòn mà đi vì con đường này men theo sườn núi và vẫn nhằm vào hướng nam. Càng đi vào sâu, đường càng hẹp. Một vài chỗ bắt đầu phải dùng dao phát dây leo mọc chăng ngang. Đang lo trời sắp tối thì chúng tôi nghe tiếng gà và bắt đầu ngửi thấy mùi khói bếp. Vậy là đã gặp dân bản. Những ngôi nhà sàn tạm bợ họp với nhau thành một bản nhỏ trên một khu đất bằng phẳng, ẩn mình dưới tán rừng già. Khi tổ khảo sát bước vào bản, một ông già ra chắn ngang đường. Ông chỉ cái sân giữa bản, nói bộ đội ngồi đây nghỉ đã. Khi biết đây chính là bản Tà Lùng mới sơ tán đến, tôi nói:

- Chúng tôi có mang thư của tà xẻng gửi phò bản (già bản). Xin ông đọc rồi giúp bộ đội.

Bắt đầu có một số người quây quanh chúng tôi. Tôi liếc xung quanh, thấy từ vài nhà sàn, những nòng súng AK vẫn đang kín đáo chĩa về phía mình. Ông già cầm lá thư, hỏi mấy người đàn ông xung quanh. Những người này đều lắc đầu. Ông già nói:

- Ở bản này không ai biết đọc.

- Vậy tôi sẽ đọc cho bà con nghe.

Bây giờ tôi mới thấy công phu học chữ Lào thật có ích. Tôi cầm lá thư đọc to: “Khỏ phạc hạy hoong chạu bạn Tà Lùng” (Kính gửi ông phò bản Tà Lùng)... Những người dân đang nói chuyện bỗng im lặng. Tôi đọc tiếp, đọc chậm, đôi chỗ vấp nhưng có vẻ như bà con đều hiểu, vì sau khi đọc xong, họ tỏ vẻ hài lòng. Tuy nhiên, có một thanh niên liếc nhìn tôi rồi ghé vào tai ông già. Tôi nghe loáng thoáng: “Cẩn thận, trông hắn giống người Lào lắm!”. Bất giác, tôi nhìn lại mình: Gầy gò, đen đúa sau những trận sốt rét và xuyên rừng, quả thật trông giống những người đàn ông Lào vất vả kiếm ăn, đi nương, đi rẫy. Ông già nhíu mày, có lẽ ông thấy trách nhiệm của mình rất lớn. Biết đâu cái thằng cha gầy, đen này là phỉ Lào đang dẫn thám báo ngụy quân đi trinh sát. Nếu họ là bộ đội Việt Nam thì không thể không giúp. Nhưng nếu là phỉ thì ngay đêm nay, tai họa có thể ập đến với dân bản. Ông trao đổi gì đó với mấy người đàn ông đứng tuổi, rồi nói:

- Chúng mày họp đi cho dân xem có giống bộ đội không?

Tôi quay sang anh em:

- Bà con đã hiểu lá thư tà xẻng gửi xuống, nhưng chưa thật yên tâm. Họ yêu cầu ta họp xem có giống bộ đội họp không. Tôi sẽ chủ trì, đề nghị mọi người xem đây là một cuộc họp nghiêm túc. Phải thật thoải mái, không được căng cứng, bà con sinh nghi.

Anh em bắt đầu rút sổ tay và bút ra ghi chép. Tôi mở đầu:

- Thưa các đồng chí, tính đến hôm nay, ta đã qua hai ngày khảo sát. Đây là một tuyến rất khó khăn. Rừng rậm, địa hình hiểm trở, lại là địa bàn phỉ Lào đang hoạt động. Từ đây đến bản Soa A Viêng còn xa mà bà con thì chưa tin và chưa sẵn sàng dẫn đường cho chúng ta. Tiến độ khảo sát có nguy cơ bị chậm, chúng ta thử bàn xem nên giải quyết thế nào?


 Minh họa: QUANG CƯỜNG

Mỗi người một ý kiến. Họ đều giơ tay và chỉ khi được cho phép mới phát biểu, có những ý kiến thực ra chỉ để tạo không khí. Cuối cùng, tôi nói đôi lời kết luận. Cuộc họp diễn ra mười lăm phút. Tôi quay sang phò bản thông báo đã họp xong. Ông già gật gù rồi chỉ căn nhà to nhất và nói: “Tao tin rồi. Tối nay bộ đội ngủ trong nhà kia, mai tao sẽ cho dân quân dẫn đường”.

Tối hôm ấy, trước khi ngủ, Phùng nhắc vẫn cần cắt nhau thức gác. Anh ra hiệu cho tôi: Gần nơi bậc thang lên nhà sàn có một người đàn ông khoác AK đang đứng sau gốc cây. Rõ ràng, họ chưa hoàn toàn yên tâm khi có một toán người mang vũ khí xuất hiện. Ngược lại, với tổ khảo sát thì đây là vùng phỉ đang hoạt động nên cũng phải đề phòng mọi bất trắc. Một đêm yên tĩnh trôi qua. Sáng hôm sau, ông phó bản dẫn thêm hai người trung niên đeo AK. Ông nói:

- Tao sẽ dẫn đường, nhưng phỉ vừa tràn qua, trên đường có thể bị chúng rải mìn díp nên bộ đội phải cẩn thận.

Lời cảnh báo của ông già đã đặt ra một tình huống mới. Mìn díp là loại mìn sát thương bộ binh. Nó làm cụt chân người giẫm phải. Nếu đi trên đường này, ai không may dính mìn thì cũng khó sống, vì từ đây, không biết đi bao lâu mới đến được bệnh viện. Phùng nhận đi trước nhưng Giá gạt đi: “Để tôi đi đầu, tôi sẽ có cách để chúng ta không thể giẫm phải mìn”. Không chờ mọi người có ý kiến, Giá bẻ một cành cây mềm, vừa đi vừa khua đám lá khô trên đường. Qua nửa giờ chỉ đi được vài trăm mét, Phùng nói:

- Cái sáng kiến này xem ra chưa ổn. Bây giờ thế này: Tôi đi đầu, tôi sẽ để ý mỗi bước chân. Tôi đặt chân vào đâu thì người sau đặt đúng vào chỗ ấy. Nếu không đặt đúng vào vết chân của tôi thì không được đặt vào chỗ có biểu hiện của đất mới, chúng có thể vùi mìn dưới đó, và không được đặt chân vào đám lá khô.

Theo cách của Phùng, tốc độ đi đã khá hơn, nhưng vẫn rất chậm. Khi cảm thấy có vẻ như không có mìn trên đường, bước chân mạnh dạn dần lên. Đi chừng hơn một giờ, ông già nói: Từ đây chỉ có một đường, bộ đội cứ theo đường này là đến.

Chúng tôi cảm ơn những người dẫn đường tốt bụng rồi đi tiếp. Khi chiều sắp tắt nắng, tổ khảo sát đến bản Soa A Viêng. Chắc dân đã bỏ đi từ lâu. Những ngôi nhà sàn mái tranh đã sập, cỏ mọc lút vườn và lối đi. Chúng tôi ngồi nghỉ trên một phiến đá lớn. Bỗng một cậu cảnh vệ chỉ vào đám cỏ: “Các anh ơi, có cái gì như hộp thuốc lào kìa”. Phùng thảng thốt nhận ra đó là mìn díp, anh nhắc mọi người ngồi im rồi cầm một cái que, nhẹ nhàng gạt cỏ và lá xung quanh, phát hiện thêm hai trái mìn nữa. Anh thận trọng nhặt từng trái bỏ xuống một cái hố. Sau đó, anh quan sát địa hình rồi chỉ vào hai cái cây nhỏ, thân chỉ bằng cổ chân, nói với hai chiến sĩ:

- Đến hai cái gốc cây, tìm quanh bán kính một đến hai mét có thể có mìn đấy. Nhớ đi phải thận trọng từng bước chân.

Nói rồi, đích thân anh đi tiếp theo lối mòn xuống núi ở đầu bản. Quả nhiên, họ đã phát hiện ra 4 quả mìn nữa. Chúng tôi chất tranh khô vào cái hố và đốt, cho đến khi nghe đủ 7 tiếng nổ. Tôi nhìn Phùng đầy thán phục, trong khi anh cười hiền nói: “Bọn phỉ nó tính kỹ lắm. Loại mìn díp này chỉ làm cụt chân chứ không chết. Một người trúng mìn thì phải thêm 4 người khiêng thương binh. Như vậy, một người bị thì tác hại của nó có thể nhân thêm năm lần. Khi một người bị, mọi người sẽ xúm vào cấp cứu. Vậy sẽ rất hiệu quả nếu rải mấy quả mìn quanh một chỗ, thế nào cũng nhiều người bị dính. Giữa rừng thì khiêng thương binh bằng cách nào? Tất nhiên là cáng bằng võng. Muốn cáng võng phải có đòn khiêng. Vậy quanh khu vực này lấy đâu ra đòn khiêng? Hai cái cây ấy đấy, chặt nó làm đòn khiêng thì còn gì bằng. Một trái mìn ở gốc cây, sẽ thêm anh chàng chặt đòn khiêng thành nạn nhân...”. Điều anh vừa nói với tôi cứ như sách vở. Nhưng lính tiễu phỉ mà không có kinh nghiệm dễ gặp phải lắm.

Chuyến khảo sát ấy thành công và an toàn. Thật may mắn cho tổ chúng tôi có người đầy kinh nghiệm như Phùng, nếu không, không biết điều gì sẽ xảy ra. Chỉ tiếc rằng sau này, hai thành viên trong tổ khảo sát là Giá và anh Phú đã hy sinh. Tôi viết những dòng này xin thay cho nén tâm nhang thương nhớ họ!

Thiếu tướng HỒ SỸ HẬU