Chúng tôi cùng ngồi quanh một bàn gỗ ở giữa có mô hình súng Bazooka mà Viện Vũ khí (Tổng cục CNQP) vừa gửi tặng ông Hồ Thanh Kha. Với chất giọng Huế đặc trưng, khi được hỏi về những kỷ niệm với ngành quân giới thời kỳ đầu mà ông là một trong số ít nhân chứng còn sống, người cán bộ lão thành cách mạng đã ở tuổi 92 đưa chúng tôi ngược dòng thời gian trở về những năm 40 của thế kỷ trước.

16 tuổi, đang học tại Trường Quốc học Huế thì Cách mạng Tháng Tám nổ ra, Hồ Thanh Kha tình nguyện gia nhập Giải phóng quân. Do có năng khiếu về văn học nên Ban Tuyên truyền Giải phóng quân Thừa Thiên-Huế cử ông về làm phóng viên cho tờ báo Chiến sĩ. Trong cao trào cách mạng, ông đã xin gia nhập đoàn quân Nam tiến làm phóng viên Mặt trận Nha Trang-Khánh Hòa và đã bám trụ ở đây suốt 101 ngày đêm (từ ngày 23-10-1945 đến 1-2-1946) với không ít tin, bài gửi về cho Báo Chiến sĩ rồi mới trở lại tòa soạn ở Huế. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông ở lại cùng đồng đội kiên cường thực hiện nhiệm vụ ở Mặt trận Huế trong hơn 60 ngày đêm. Khi Mặt trận Huế vỡ, ông theo cơ quan của báo chuyển ra Vinh, Nghệ An. Khi Báo Chiến sĩ nhập vào Liên khu 4, ông đề nghị với cấp trên xin được ra Hà Nội theo dõi và đưa tin về “nơi nóng bỏng” này. “Mới đến cửa ngõ Thủ đô, tôi lại nhận được tin các cơ quan đã cơ bản rút ra khỏi nội thành. Thủ đô đã bắt đầu kháng chiến. Tôi xin phép vào làm phóng viên Mặt trận Hà Nội nhưng không được, đành quay xuống Nam Định. Và bước ngoặt của cuộc đời tôi đã đến”-Đại tá Hồ Thanh Kha nhớ lại.

leftcenterrightdel
Đại tá Hồ Thanh Kha. Ảnh: LA DUY.

Như lời chia sẻ của ông, bước ngoặt ấy cũng chính là cơ duyên để ông đến với ngành quân giới và rồi gắn bó với nó cho đến khi về nghỉ công tác. Số là cũng khoảng thời gian ấy, Nha NCKT và cơ quan của Cục Quân giới đóng quân ở thủ phủ huyện Ứng Hòa (Hà Tây trước đây). Bất ngờ, ông gặp lại đồng chí Ngô Điền (sau là Đại sứ của Việt Nam ở Campuchia)-thầy giáo cũ, đồng thời là thủ trưởng của mình ở Báo Chiến sĩ. “Biết tôi từ nhỏ, học giỏi cả Văn lẫn Toán nên thầy Ngô Điền tỏ ý muốn giới thiệu tôi gia nhập Nha NCKT mới được thành lập, đang rất cần người. Phó giám đốc Nha NCKT lúc bấy giờ cũng là thầy giáo cũ đồng ý nhận và cho phép tôi tham dự cuộc bắn thử vũ khí mới do Cục trưởng Cục Quân giới Trần Đại Nghĩa trực tiếp chỉ đạo. Về sau tôi mới biết đó là súng và đạn Bazooka”-ông kể.

Sau đó, Hồ Thanh Kha quay trở lại Liên khu 4 làm các thủ tục cần thiết để chuyển công tác. Đến khoảng cuối tháng 1-1947, vừa đi vừa thăm dò, ông mới biết Nha NCKT đã chuyển lên Tuyên Quang. Vì vậy, phải mất hơn một tháng sau, trải qua hành trình di chuyển bằng nhiều loại phương tiện, ông mới lên đến địa điểm đóng quân của Nha NCKT ở thôn Đồng Chiêm (Chiêm Hóa, Tuyên Quang) và được biên chế về Phòng Hóa chất, lúc bấy giờ do đồng chí Phạm Đồng Điện làm Trưởng phòng. Về sau, Nha NCKT chuyển lên Phia Khao (Chợ Đồn, Bắc Kạn) rồi lại về thôn Đồng Chiêm... Tất cả cơ quan và khu vực gia đình đều được xây dựng trên một ngọn đồi rộng, thoai thoải, được cả rừng cây xanh che khuất. CCB Hồ Thanh Kha bồi hồi: “Đến giờ, tôi vẫn nhớ như in ngọn đồi trung tâm mà trên đỉnh là nhà ở và làm việc của Phòng Cơ khí; bên trái là Phòng Hóa chất, bên phải là Phòng Xạ thuật, cạnh đó là Phòng Tác chiến công dụng. Phía sau đồi là các cơ sở phát lực cơ khí của các xưởng thực nghiệm... Tất cả đều được chính anh chị em trong Nha NCKT tự thiết kế thi công từ các nguyên vật liệu là tranh tre, nứa lá lấy trong rừng”.

Những hồi ức cách đây hơn 70 năm lại trở về cuồn cuộn theo lời kể của người lính già, nhưng ông bảo với chúng tôi rằng đừng gọi thế vì giờ “mình đang sống lại tuổi mười chín, đôi mươi đấy”. Và ở cái tuổi hừng hực sức trẻ ấy, từ một nhà báo chiến sĩ, Hồ Thanh Kha chuyển sang làm công tác khoa học, say mê cùng đồng đội với những khám phá để nhờ đó, những loại vũ khí “made in Vietnam” lần lượt ra đời. Ông nhớ chuyến công tác về xuôi đầu tiên mùa hè năm 1949. Đoàn cán bộ của Phòng Hóa chất do Trưởng phòng Phạm Đồng Điện làm trưởng đoàn cùng ông và đồng chí Hồ Hữu Phương về Bắc Giang, Lạng Sơn đi nghiên cứu diêm tiêu được chế tạo từ đất phân dơi. “Chúng tôi không khỏi sửng sốt khi vào hang dơi Thiện Kỵ là nơi trú ngụ của hàng vạn con dơi. Buổi sáng chúng bay ra khỏi hang đi kiếm ăn, buổi chiều lại bay về treo mình lên trên các vòm hang, phân dơi rơi xuống đất, hóa tác lâu ngày với đất trở thành đất hang dơi. Bằng kinh nghiệm từ lâu nay, người dân địa phương phải vất vả đào bới đem về bán cho xưởng sản xuất diêm tiêu tại Phỗng, chế biến tiếp bằng cách trộn với tro bếp rồi lọc và cho kết tinh thành các tinh thể diêm tiêu. 6 tháng liền, Trưởng phòng Phạm Đồng Điện chỉ đạo chúng tôi nghiên cứu, xác định tỷ lệ các thành phần một cách khoa học để hoàn thành việc “xây dựng quy trình” cụ thể để sau này ta chủ động sản xuất diêm tiêu phục vụ chế tạo thuốc súng đánh giặc Pháp xâm lược”-Đại tá Hồ Thanh Kha vừa nói vừa cho chúng tôi xem bài thơ “Bài hát của dơi” ông viết tại Bố Hạ (Bắc Giang), năm 1949 để tặng đồng bào Thiện Kỵ đã không quản gian lao, nguy hiểm khai thác đất phân dơi.

leftcenterrightdel
Nấu diêm tiêu trong rừng Việt Bắc. Ảnh do Đại tá Phan Trọng Phan, nguyên Thư ký của Anh hùng Lao động Ngô Gia Khảm cung cấp.

Và rất nhiều lần khác, ông đã cùng đồng đội thực hiện nhiệm vụ của mình. Nào là cuộc tổng di chuyển khi thực dân Pháp mở trận càn lên Việt Bắc, Thu Đông năm 1947; là những lần vượt Đèo Khế trên đường từ Tuyên Quang qua Thái Nguyên và ngược lại để đến các công binh xưởng. Ông không thể quên hình ảnh “đầy màu sắc” của những người thợ. Da thịt, quần áo phủ lớp bụi đen-đấy là công nhân sản xuất và nghiền tán than; số khác phủ bụi vàng là công nhân lọc và nghiền tán diêm sinh; số phủ bụi xám là những công nhân sản xuất thuốc đen (thành phẩm của 3 nguyên liệu: Diêm tiêu, diêm sinh và than màu đen)... Nhưng trên khuôn mặt họ, đôi mắt sáng và nụ cười tươi luôn thường trực. Và ông nhớ cả những ngôi mộ mới có, cũ có của những công nhân làm thuốc đen hy sinh do tai nạn cháy, nổ.

Câu chuyện đến đây ông bỗng dừng lại, cố nén xúc động rồi mới thấp giọng nói: “Trong nghiên cứu đạn dược, nhất là “cái nghề cháy, nổ” này, đã có hàng trăm cán bộ, công nhân viên của ngành quân giới hy sinh và bị thương tật. Ở Nha NCKT cũng không ít, tôi đã từng tham gia từ việc băng bó vết thương cho đến khâm liệm những người bạn đã hy sinh”. Rồi ông bảo: “Mất mát thì nói thế thôi, giờ kể chuyện may mắn nhé”. Thế là ông kể về trường hợp bắn thử đạn AT (Anti-Tank - loại đạn dùng để tiêu diệt các loại xe thiết giáp) của đồng chí Nguyễn Đức Thừa, Phó trưởng phòng Hóa chất khoảng giữa năm 1949, tại Phia Khao. “Số là hôm ấy, khi anh Thừa bắn thử quả đạn vọt ra nhưng không may có mảnh nhọn chạm vào anh, chảy máu đầu. Anh em chưa kịp phản ứng thì có cô gái con một gia đình người dân ở cạnh nơi đóng quân của đơn vị đã từ đâu chạy đến, nhanh chóng tìm bông băng sơ cứu. Vết thương nhẹ thôi nhưng từ đó, anh em biết anh Thừa được cô hàng xóm để ý!”-ông cười nói... 

Năm 1952, sau gần 5 năm công tác ở Nha NCKT (lúc này đã chuyển thành Viện Nghiên cứu Quân giới), Hồ Thanh Kha trở về Thừa Thiên-Huế, sau đó, ông và hai đồng đội là Nguyễn Huy Sính và Lê Xuân Quảng vào công tác tại Sở Quân giới Liên khu 5. Một năm sau khi hiệp định Geneva được ký kết, khi đã hoàn thành nhiệm vụ thu dọn chiến trường, phân chia các loại vũ khí theo chỉ đạo của trên ra miền Bắc hoặc bao gói chuyển vào miền Nam, ông mới lên chuyến tàu cuối cùng ra miền Bắc tập kết. Trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau, chứng kiến nhiều thay đổi của ngành CNQP qua 75 năm lịch sử, Đại tá Hồ Thanh Kha cho biết, ông đã ghi chép lại những câu chuyện, những kỷ niệm mình từng trải qua và chứng kiến bằng những vần thơ mộc mạc. Năm 2009, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã phát hành tập thơ “Xưởng máy trong rừng xanh” với gần 100 bài do ông sáng tác. Chia tay chúng tôi, ông cho biết dù tuổi đã cao nhưng ông vẫn tiếp tục viết, hy vọng có thể xuất bản tập nữa để đồng đội và các bạn trẻ biết, cảm nhận về một thời “chúng tôi đã ở trong rừng” như thế!

SONG THANH