Ông Đoàn Thanh Phương sinh năm 1942, tại xã Vĩnh Xuân, huyện Trà Ôn, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long). Cha và nhiều người thân của ông Phương trực tiếp tham gia cách mạng từ thời chống Pháp. Năm 12 tuổi, ông tham gia Đội Thiếu niên ở địa phương. Năm 1960, tròn 18 tuổi, ông gia nhập bộ đội địa phương và học lớp công binh đặc công, được cử làm Ấp đội trưởng ấp Gia Kiết, xã Vĩnh Xuân. Sau đó ông được đi học khóa y tá, về làm Trạm trưởng Trạm Y tế xã Vĩnh Xuân.

leftcenterrightdel

Ông Đoàn Thanh Phương (bên trái) gặp lại ông Trần Văn Minh-người đồng chí, bạn tù từng vượt ngục Phú Quốc. Ảnh: TRUNG KIÊN 

Trong một lần đi móc nối cơ sở mua thuốc, vật tư y tế cho trạm, ông không may gặp địch đi càn, ném lựu đạn làm ông bị thương ngất đi. Khi tỉnh dậy ông mới biết mình bị bắt, còn đồng đội đi cùng đã hy sinh. “Đó là ngày 3-5-1966, giặc đưa tôi vào khám lớn Vĩnh Long. Ngày 28-5-1967 thì đưa về trại giam tù binh Cần Thơ. Ngày 28-5-1968, chúng đưa tôi cùng khoảng 2.000 tù binh khác ra Phú Quốc. Qua mỗi nhà tù như vậy đều bị thẩm vấn, nếu không khai sẽ bị tra tấn bằng điện, đánh bằng chày vồ, cây ba trắc”, ông Phương kể.

Với các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt đày ra nhà tù Phú Quốc thì những ngày tháng ở “địa ngục trần gian” thật sự khốc liệt. Để lấy lời khai của những người yêu nước, chúng dùng nhiều cực hình tra tấn dã man, như: Chích điện, đóng đinh vào người, đục răng, đốt dây kẽm gai cháy đỏ đâm vào da thịt, trùm bao bố đổ nước sôi, chôn sống... Căm phẫn sự tàn ác của địch, hàng trăm tù binh tổ chức vượt ngục, dù biết rằng nếu thất bại sẽ bị hành hạ dã man hơn. Đêm mồng 8 Tết Kỷ Dậu 1969, ông Phương cùng 4 đồng đội tổ chức vượt ngục nhưng bất thành. Kẻ thù tra tấn ông bằng cách đục gãy 12 răng, rút hết 10 móng tay và 2 ngón chân cái. Sự tàn bạo của địch càng hun đúc thêm ý chí quyết tâm của người chiến sĩ phải vượt ngục để trở về với đồng đội, tiếp tục cầm súng chiến

đấu. “Tháng 8-1970, tôi trao đổi với anh Trần Văn Minh ở cùng phòng giam khu 1 tổ chức vượt ngục lần 2. Nhưng vừa thoát ra khỏi hàng kẽm gai cuối cùng thì bị chúng phát hiện, bắn đạn như vãi trấu, nên mỗi đứa chạy một nơi và lạc nhau. Tôi lang thang trong rừng, ăn cỏ, lá cây để sống. Bảy ngày sau tôi bị địch lùng sục bắt lại. Lần này, chúng đóng đinh vào 10 đầu ngón tay, đánh gãy 3 xương sườn”, ông Phương nhớ lại.

Ông Trần Văn Minh, người cùng vượt ngục với ông Phương, hiện là cựu tù kháng chiến huyện Tân Phước (Tiền Giang) kể: “Tôi chạy được khoảng 300m thì bị chúng bắt

lại. Chúng hỏi tôi vượt ngục với ai, tôi nói một mình, vậy là chúng đánh. Dẫu bị tra tấn cỡ nào tôi nhất định không khuất phục, thà hy sinh chứ không khai báo. Sau đó, anh Phương cùng đồng đội tiếp tục vượt ngục hai lần nữa nhưng đều thất bại. Những đòn tra tấn càng dã man hơn, nhưng bằng niềm tin mãnh liệt vào Đảng, vào lý tưởng cách mạng, chúng tôi luôn vững vàng trước hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Ngày 21-1-1971, tôi, anh Phương và anh Trần Minh Quang phối hợp giết tên quân cảnh ác ôn Lê Ba. Sau đó, tòa án quân sự Cần Thơ của địch kết án anh Quang 15 năm tù, tôi 20 năm, còn anh Phương bị tử hình với 3 tội là giết tên Lê Ba, vượt ngục 4 lần và bắt trói quân cảnh”.

Kết án xong, chúng chuyển ông Phương qua khám Chí Hòa, đày ra Côn Đảo, rồi trại giam Hố Nai, cho đến ngày trao trả tù binh ngày 7-3-1974, tại Biên Hòa, Đồng Nai. Sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước, ông Phương rời vị trí Chính trị viên Đại đội 2, Tiểu đoàn Tây Đô (Quân khu 9), chuyển về công tác tại Phòng Nông nghiệp huyện Trà Ôn. Năm 1979, ông nghỉ hưu do sức khỏe yếu. Năm 1995, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu. Ông Nguyễn Văn Năm, Chi hội phó Chi hội Cựu chiến binh khóm 4, phường 4, TP Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, cho biết: “Khi nghỉ hưu, anh Hai Phương về đây được chính quyền địa phương giúp đỡ chỗ bán bún nuôi 3 con ăn học thành đạt. Trong đó, hai con gái là bác sĩ, con trai hiện là Thiếu tá, Chủ nhiệm Chính trị Trường Cao đẳng nghề số 9. Anh sống rất tình nghĩa, thường giúp đỡ bà con lối xóm”.

Giờ đây, tuy sức khỏe giảm sút nhiều do hậu quả những đòn tra tấn trong lao tù đế quốc, ông vẫn tranh thủ viết quyển hồi ký thứ hai về một thời bi tráng của mình và đồng đội mang tên “Mười hai cửa ngục”. Ở đó, dù bị những đòn tra tấn dã man của địch, cái chết luôn cận kề, song những người tù cách mạng luôn nuôi dưỡng ý chí chiến đấu, tinh thần lạc quan và tình thương yêu đồng chí, đồng đội.

HỒ KIÊN GIANG