Các đồng chí CCB từng là nòng cốt tham gia chiến dịch nay sinh sống ở Quảng Bình còn nhiều và đã thành lập Ban liên lạc “Đội đặc biệt Hòn La”. Đồng chí Chu Văn An, Chủ tịch Hội CCB xã Quảng Đông (Quảng Trạch, Quảng Bình) đưa tôi đến mỏm đồi nhỏ gần biển và cho biết đó là nơi tập kết gạo từ biển vào, với tấm bia ghi dòng chữ: “Di tích lịch sử quốc gia-Cảng Hòn La: Nơi tiếp nhận cơ sở vật chất cho tuyến chi viện chiến lược đường Trường Sơn năm 1972”.
    |
 |
|
CCB Trần Đình Lô kể chuyện Chiến dịch Hòn La năm 1972. |
Để chuyển hàng nghìn tấn gạo từ biển vào bờ dưới sự săm soi, túc trực bắn phá suốt ngày đêm của không quân và hải quân Mỹ, chúng ta phải áp dụng nhiều phương pháp, nhiều chiến thuật và nhiều sáng kiến. Riêng lực lượng trực tiếp và gián tiếp vận chuyển có hàng nghìn người, gồm bộ đội, dân quân, công nhân và nhân dân ven biển từ Quảng Bình đến Quảng Trị, nhưng chủ yếu vẫn là Đại đội 300 của Tỉnh đội Quảng Bình. Hơn 100 chiến sĩ được lựa chọn kỹ từ 7 đơn vị bộ đội địa phương lập thành một đơn vị “cảm tử”. Đồng chí Trần Đình Lô được cử làm đội trưởng, sở chỉ huy đóng quân ở xã Quảng Xuân (Quảng Trạch), cách Hòn La hơn chục cây số. Tôi tìm đến nhà ông Trần Đình Lô, 75 tuổi, ở xã Bảo Ninh (Đồng Hới, Quảng Bình), là Trưởng ban liên lạc của Đại đội 300. Ông kể: Tàu chở gạo neo gần đảo Hòn La, các phương tiện ra cập mạn lấy hàng vào ban đêm, chở bằng đường biển và đường bộ vào cảng Gianh, từ đó chuyển vào miền Nam. Tỉnh đã huy động số lượng lớn tàu của Công ty Vận tải Sông Gianh, tàu đánh cá của Ty Thủy sản và của ngư dân, dự kiến 30 đêm mới xong một tàu. Mặc cho máy bay và pháo hạm của Mỹ oanh tạc liên tục nhưng các tàu thuyền vẫn luồn lách để nhận hàng. Song vì tàu ta quá nhỏ nên tốc độ chuyển hàng chậm, đêm đầu tiên với 5 tàu VS và 10 tàu đánh cá chỉ chuyển được 500 tấn gạo vào cảng Gianh, tuy vậy cũng đã thành công để rút kinh nghiệm cho các chuyến sau.
Theo lời giới thiệu của ông Lô, tôi đến gặp ông Hoàng Văn Minh, 72 tuổi, ở phường Hải Thành (Đồng Hới). Ông nguyên là trung đội trưởng, trực tiếp tham gia chiến dịch, nhiều lần vượt qua thủy lôi và súng máy của trực thăng Mỹ, dũng cảm cứu hàng, cứu người. Nhà ông Hoàng Văn Minh ở gần hồ Bàu Tró. Nhìn ra biển xanh, ông hào hứng kể: “Sau khi địch phát hiện, phong tỏa bằng thủy lôi và bom từ trường dày đặc xung quanh tàu Hồng Kỳ và dọc bờ biển, ta không dùng tàu sắt mà chuyển qua thuyền gỗ gắn máy, thuyền nan. Phương pháp ban đầu là “lao ngang”, mỗi thuyền có 10 đến 12 người, ban đêm xuất phát từ Quảng Xuân, vượt qua thủy lôi, bom từ trường, cập mạn tàu Hồng Kỳ để nhận hàng, gần sáng về đến bờ. Đêm đầu tiên thí điểm 3 thuyền thì máy bay bắn chìm 1 thuyền, 3 đồng chí hy sinh song chúng tôi vẫn không nản chí, tiếp tục bám biển. Một tuần sau, ta lại dùng phương pháp “lao dọc”, tức là chèo thuyền ra đến Quảng Đông, cách tàu Hồng Kỳ khoảng hai cây số thì lao thẳng ra biển nhận hàng, tuy có mạo hiểm nhưng hiệu quả cao hơn. Với những chiếc thuyền gỗ, chúng tôi đã chuyển được 1.715 tấn gạo về điểm tập kết an toàn”.
CCB Trần Đình Lô xúc động nhớ lại: “Rất nhiều lần chúng tôi làm lễ truy điệu sống đồng đội. Tôi còn nhớ trường hợp hy sinh của đồng chí Phú ở Trung đội 3. Trước lễ cảm tử để ra khơi, vợ đồng chí ấy đang mang thai 6 tháng đứa con đầu lòng, nhắn về quê có việc nhưng đồng chí vẫn xung phong đi làm hoa tiêu cho 3 thuyền gắn máy của Công ty Vận tải Sông Gianh. Thuyền gần đến tàu Hồng Kỳ thì pháo từ hạm đội 7 bắn vào, đồng chí Phú hy sinh, máu loang mặt biển. Nhìn người vợ trẻ ôm thi hài chồng ngất xỉu, không ai cầm được nước mắt. Hoặc trường hợp các chiến sĩ hy sinh ở đảo Yến cũng vậy. Thuyền chở gạo về đến Vũng Chùa thì dính thủy lôi, có 8 người trên thuyền thì hy sinh mất 6, ba ngày sau mới đưa được các đồng chí ấy về. Năm nào chúng tôi cũng ra Vũng Chùa thả đèn hoa đăng để tưởng nhớ các anh”.
Ông Minh kể tiếp: Khi thuyền gỗ bị chúng đánh phá tổn thất nhiều, ta có sáng kiến dùng dây ni lông buộc từng chùm bao gạo bọc vải bạt kéo vào bờ. Trên tàu gắn đầu tời, kéo dây vào những gốc phi lao lớn ven bờ, mỗi chùm 16 bao. Phương pháp này giảm thương vong nhưng sau vài đêm kẻ địch cũng phát hiện ra, chúng bắn đứt dây, thủng bao gạo. Ta lại nối dây, chuyển hàng, đấu trí, thi gan với địch. Rút kinh nghiệm ở Nam Lào ta dùng cách thả trôi hàng trên sông Xê Băng Hiêng, hợp đồng với bạn cho đóng gạo 4 lớp vỏ, gọi là “gạo 4 bao”, lợi dụng gió mùa Đông Bắc thả hàng xuống biển, trôi vào bờ. Cuối tháng 7, tàu Hồng Kỳ 152 chở 6.000 tấn gạo 4 bao, có một cơn bão nhỏ, ta thả 200 bao xuống biển, dân quân từ Bố Trạch đến Vĩnh Linh vớt được phần lớn. Gặp dịp gió mùa Đông Bắc thổi mạnh, gạo thả liên tục. Tàu Hồng Kỳ 162 cũng thả được 6.250 tấn. Máy bay Mỹ tăng cường bao vây, ta đề nghị dịch chuyển tàu về phía đảo Yến. Đến sáng 16-1-1973, tàu Hồng Kỳ 152B thả hàng, ta huy động toàn lực lượng bốc xếp cả ngày đêm chuyển hết 6.000 tấn gạo. Chiến dịch R1 kết thúc thành công.
Bài và ảnh: XUÂN VUI