Trên tuyến phòng ngự đồi Bông, đồi Nghệ, đồi Vàng thì điểm cao 303 như một đỉnh tháp. Trên điểm cao 303, có thể quan sát một vùng giáp ranh rộng lớn, nhất là hướng nam Phú Cần, một địa bàn quan trọng về chiến lược quân sự mà trước ngày ký Hiệp định Paris, chúng tôi đã nhiều lần bí mật xuống trinh sát chuẩn bị cho những chiến dịch lớn. Tùy theo từng thời điểm, tuyến phòng ngự này bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực thay nhau chốt giữ. Đại đội tôi phòng ngự ở điểm cao 303. Nói là đại đội nhưng có thời điểm đếm đầu quân chỉ được một trung đội, thậm chí ít hơn. Cuộc chiến căng thẳng, ác liệt, chiến sĩ mới, chiến sĩ cũ nhiều khi vừa gặp mặt, chưa kịp biết tên thì đã bị thương, hy sinh rồi…
Đối đầu với bộ đội ta trên tuyến phòng ngự này chủ yếu là tiểu đoàn “trâu điên”. Có thể nói, đây là một trong những đơn vị thiện chiến nhất của thủy quân lục chiến ngụy. Như tù binh ngụy thừa nhận thì “trâu điên” là một đội quân gan lỳ, hung hãn và tàn ác.
Mùa khô năm 1973, càng về cuối năm, những trận chiến đấu quyết liệt giành giật các trận địa chốt trên tuyến phòng ngự giáp ranh đồi Bông, đồi Nghệ, đồi Vàng, điểm cao 303 giữa ta và địch ngày càng khốc liệt hơn. Đối đầu với lính “trâu điên”, chúng tôi mới cảm nhận được hết sự lì lợm và hung hãn của nó. Trung bình trong một ngày có 2 đến 3 đợt lính ngụy tiến công lên điểm cao 303. Ban đầu, chúng tấn công theo quy luật vào những thời điểm chúng cho là ta hay chủ quan như mờ sáng, giữa trưa hoặc trời sắp tối. Sau nhiều lần thất bại, chúng thay đổi quy luật, có thể mở đợt tiến công bất cứ lúc nào. Hỏa lực yểm trợ cho bộ binh tiến công chúng cũng thay đổi quy luật. Nếu trước đây pháo chúng thường bắn phá dồn dập trước mỗi lần xua quân lên thì sau này chúng bắn cầm canh nhưng kéo dài suốt cả ngày, mục đích tạo không khí căng thẳng, mệt mỏi khiến bộ đội ta thiếu cảnh giác, sau đó chỉ một vài phút pháo cầm canh dứt là chúng thúc lính bộ binh ùa lên chốt.
Những tên lính “trâu điên” đầu đội mũ sắt, đen trũi, lì lợm và hung hãn bất chấp hỏa lực của ta. Nhiều tên trúng đạn, rơi vào bẫy hỏa lực của ta bị hất ngược xuống sườn đồi nhưng tên sau vẫn đạp xác đồng đội lao lên. Có những trận chiến đấu ác liệt, cả ta và địch đều thương vong nhiều, chiến hào tiền duyên của ta có những đoạn hàng chục mét chỉ còn lại một, hai tay súng. Lợi dụng khoảng trống ấy có những tên lính nhảy cả vào chiến hào mà hỏa lực của ta ở tuyến hai chi viện không kịp.
Một buổi chiều tối, sau 3 đợt chiến đấu giữ chốt, trung đội chúng tôi (Trung đội 2, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 6-Phú Xuân) còn lại chưa đầy 10 người. Đại đội trưởng hy sinh, đại đội phó báo cáo với tiểu đoàn thực lực quân số để xin chi viện. Việc bổ sung quân phụ thuộc phía sau, tiểu đoàn có thể điều chỉnh trên toàn tuyến nhưng phải giữ được lực lượng trên hướng chủ yếu. Trung đội trưởng của chúng tôi, anh Lục, một thanh niên vùng biển Thanh Hóa vốn ít nói cứ vò đầu bứt tai hỏi mọi người mà như tự hỏi mình: “Liệu sáng mai chúng nó xua quân lên thì sao đây? Trung đội chỉ còn mấy tay súng…”. Bỗng có một ý kiến thốt ra: “Tập trung dồn vũ khí lại…”. Trong cái khó ló ra được một giải pháp! Thế là chúng tôi tập trung toàn bộ vũ khí của trung đội lại, kể cả trang bị vũ khí của những đồng chí đã bị thương, đã hy sinh. Mỗi người ở một vị trí giữ chốt bên cạnh có đến 5-6 loại vũ khí như RPK, RPD, AK, B40, kể cả vũ khí thu được của địch như AR15, M79… Tất cả đều dồn lại và được lắp sẵn đạn. Lại nảy thêm một sáng kiến độc chiêu nữa, tất cả lựu đạn US (một loại lựu đạn của Mỹ ta thu được) kể cả cơ số dự bị và của những chiến sĩ bị thương, hy sinh đều được gom lại. Tất cả lựu đạn được rút chốt sẵn, cho kẹp vào ống nhựa B40, ống nứa to bằng bắp chân, mỗi ống đựng được 5-6 quả US, dựng sẵn mép chiến hào chờ địch…
Đúng như Trung đội trưởng Lục dự kiến, mới mờ sáng hôm sau, địch đã bí mật mở đợt tấn công chiếm trận địa chốt. Khi cảnh giới của đại đội phát hiện được và nổ súng thì pháo địch mới dồn dập bắn. Chúng lại dùng thủ đoạn “đốt lưng” bộ binh, bắn dưới chân cao điểm và chuyển làn lấn dần lên. Các trung đội của ta ở cánh nam trận địa và hướng phòng ngự chủ yếu nổ súng rất giòn giã, chứng tỏ lực lượng của ta ở hướng đó còn đủ mạnh. Riêng trung đội chúng tôi ở hướng thứ yếu, lực lượng quá mỏng, chưa đầy 10 người. Địch xua quân lên, nhưng mỗi chiến sĩ đã có sẵn trong tay nhiều loại vũ khí đủ sức tập trung hỏa lực về phía địch khiến chúng bất ngờ. Nhất là mỗi khi chúng tôi vung ống đựng lựu đạn US ra, những quả lựu đạn lăn lông lốc xuống sườn đồi đồng loạt nổ, có nhiều quả nổ tung dưới chân địch… Ngày hôm ấy, địch chỉ tấn công một lần lên trận địa chúng tôi nhưng bị thất bại. Trung đội trưởng Lục tâm đắc với sáng kiến lựu đạn US rút chốt kẹp sẵn vào ống nứa, ống nhựa B40. Sau trận chiến đấu, anh gặp đại đội phó báo cáo đề nghị cấp trên khen thưởng cho cá nhân có sáng kiến. Nhưng khi về trung đội hỏi sáng kiến của ai thì không ai biết người đã nghĩ ra đầu tiên, anh đành chép miệng và ghi công chung của cả trung đội, bởi vì ai cũng đinh ninh sáng kiến ấy là của chung một ý chí thà hy sinh chứ quyết không rời trận địa.
Gần kết thúc chiến dịch mùa khô năm ấy, tôi được đại đội giao cho viết bản báo cáo thành tích đề nghị khen thưởng cho trung đội. Suốt cả chiến dịch, không biết bao nhiêu lần đối đầu với lính “trâu điên”, cuộc đối đầu nào cũng một mất một còn nhưng rồi tôi cũng không nhớ nhiều. Riêng cái trận đánh mờ sáng hôm ấy thì tôi nhớ từng chi tiết, nhất là mỗi lần nhìn thấy lựu đạn US của Mỹ lăn lông lốc xuống sườn dốc cao điểm và cũng là lúc những tiếng nổ như sét dựng lên một bức tường lửa đạn giữa đội hình địch. Sau trận chiến đấu ấy, trung đội chúng tôi còn lại 7 người...
HỒ ANH THẮNG