Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy tên khai sinh là Nguyễn Đăng Nhược, sinh năm 1931, tại xã Ông Đình, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Tháng 6-1948, chàng thanh niên Nguyễn Đăng Nhược 17 tuổi được vào bộ đội và đổi tên là Nguyễn Đức Huy. Với tố chất thông minh, nhanh nhẹn, gần một năm sau  khi nhập ngũ, chiến sĩ Nguyễn Đức Huy được kết nạp Đảng. 

“Năm 1949, tôi được điều về công tác tại Cục Quân huấn (nay thuộc Bộ Tổng Tham mưu), sau đó được chuyển lên làm thư ký chính trị cho Cục trưởng Lê Thiết Hùng. Năm 1951, tôi được cử đi học khóa 7 (1951-1953) Trường Lục quân Việt Nam (Trường Sĩ quan Lục quân 1 ngày nay). Đầu năm 1953, kết thúc khóa học, tôi được điều về đơn vị bộ đội địa phương tỉnh Thái Nguyên. Ở đây, tôi đã trải qua các chức vụ: Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội trưởng Đại đội 86, Tiểu đoàn 75, Tỉnh đội Thái Nguyên...”, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy kể. 

Thực hiện Kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội địa phương tỉnh Thái Nguyên cũng như LLVT, nhân dân cả nước đẩy mạnh các hoạt động tấn công địch trên địa bàn, nhằm phân tán lực lượng địch, phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ. “Đại đội 86 do tôi làm Đại đội trưởng được giao đánh trận phục kích, triệt phá việc tiếp tế cho cứ điểm Mỏ Thổ của địch. Qua trinh sát, chúng tôi nắm được, cứ 2-3 ngày địch tổ chức một lực lượng vận tải khoảng một trung đội và 20-30 con ngựa thồ do sĩ quan Pháp chỉ huy, xuất phát từ núi Thờ đem đồ tiếp tế cho cứ điểm Mỏ Thổ, với đoạn đường khoảng hơn 10km...”, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy hồi tưởng.

leftcenterrightdel

 Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy (thứ hai, từ trái sang) tham gia giao lưu tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (năm 2023). Ảnh: HỒNG GIANG

Sau khi họp bàn Ban chỉ huy Đại đội và chỉ huy các trung đội, Đại đội trưởng Huy quyết định tổ chức một trận phục kích bằng hình thức độn thổ. Trận địa cách cứ điểm Mỏ Thổ chừng 3km, lợi dụng các lùm cây lúp xúp ở hai bên đường đào hầm bí mật giấu một trung đội tác chiến chủ yếu của trận đánh, 1 tiểu đội có 1 khẩu trung liên đánh chặn đầu, 1 tiểu đội làm lực lượng khóa đuôi, Đại đội trưởng trực tiếp nắm trung đội dự bị và tiểu đội cối 60mm. Thời cơ nổ súng là sau khi quân địch đã tiếp tế xong cho Mỏ Thổ, quay về núi Thờ, vì khi đi chúng rất cảnh giác, thường sục sạo hai bên đường và sử dụng pháo ở Song Mai, Đa Mai, cối 120mm, súng máy ở núi Thờ, Mỏ Thổ cùng phối hợp bắn dọn đường; nhưng khi về chúng thường chủ quan.

Sau hai ngày phục kích, địch vẫn chưa đi tiếp tế. Tới ngày thứ 3, bắt đầu từ 5 giờ, pháo địch đã bắn rải rác trên trục đường đi tiếp tế, 7 giờ, súng cối 120mm, súng trọng liên ở cứ điểm Mỏ Thổ, núi Thờ cùng bắn phối hợp. Phán đoán hôm ấy địch sẽ tổ chức đi tiếp tế, mọi người nín thở chờ đợi. Gần 10 giờ, một trung đội lính ngụy cùng khoảng hơn 20 con ngựa thồ do một sĩ quan Pháp chỉ huy bắt đầu xuất phát từ núi Thờ, chúng rất cảnh giác, lùng sục hai bên đường nhưng không phát hiện được lực lượng phục kích của ta.

Khoảng 13 giờ, sau khi tiếp tế quay về, chúng rất chủ quan. Khi đội hình địch đã vào giữa trận địa phục kích của ta, Đại đội trưởng Nguyễn Đức Huy ra lệnh cho tiểu đội cối 60mm bắn vào đội hình địch, cũng là hiệu lệnh tiến công. Lúc đầu, có lẽ quân địch chỉ cho là quân du kích bắn cối vào chúng nên tất cả nằm xuống đất bắn loạn xạ. Bộ đội ta được lệnh xuất kích, trung đội phục kích nhanh chóng bật nắp hầm xông lên, dùng súng, lựu đạn, thủ pháo bắn tới tấp vào quân địch. Lực lượng chặn đầu, khóa đuôi cũng nổ súng phối hợp. Lúc này chúng mới biết đã rơi vào trận địa phục kích của bộ đội Việt Minh nên mạnh tên nào tên nấy chạy.

Hơn 10 phút chiến đấu, ta tiêu diệt hơn 10 tên, trong đó có tên chỉ huy người Pháp. “Để tránh hỏa lực của địch, tôi đã ra lệnh cho Đại đội nhanh chóng thu dọn chiến trường, lấy chiến lợi phẩm, rút khỏi trận địa. Trận đánh giành thắng lợi trọn vẹn, toàn Đại đội không có ai hy sinh”, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy kể.

ĐẶNG VIỆT THỦY