Nhà văn Nguyệt Tú tên khai sinh là Nguyễn Nguyệt Tuệ, con đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh. Do phải nghỉ học một năm giúp mẹ trông em nên khi đi học lại, bà đã khai giảm một tuổi, ngày đêm học đuổi để kịp lớp. Nguyệt Tuệ thành nữ sinh đầu tiên đoạt giải nhất toàn tỉnh môn văn, kỳ thi cuối cấp tiểu học. Nhà khó khăn, mẹ bán chiếc mâm đồng để mua vé tàu cho Nguyệt Tuệ vào Huế thi trường Đồng Khánh (nay là Trường THPT Hai Bà Trưng, TP Huế) và đỗ đầu kỳ thi toàn Trung Kỳ, nhận học bổng toàn phần 4 năm học. Năm 17 tuổi, cô thiếu nữ ấy nghỉ hè về quê Hà Tĩnh, cách nhà nữ cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai một con sông và đã được nghe về sự kiện bà giật khăn bịt mắt khi bị xử bắn.
Giữa tháng 8-1945, không khí Tổng khởi nghĩa lan khắp nước. Sớm ngày 18-8, tại Hà Tĩnh diễn ra cuộc mít tinh lớn, nữ sinh Nguyệt Tuệ đứng hàng đầu, cờ đỏ sao vàng trong tay tự lúc nào. Hôm đó, Việt Minh giành chính quyền mà không đổ máu. Nguyệt Tuệ làm Phó bí thư Đoàn Phụ nữ cứu quốc tỉnh, lấy bí danh Nguyệt Tú. Một năm sau, đoàn thể cử bà ra Hà Nội vừa công tác vừa học tập tiếp. Nhà thơ Xuân Diệu gợi ý cho bà viết bài. Theo bản lý lịch viết tay của nữ nhà văn mà gia đình còn lưu giữ, tờ Tiền phong số 2 (sau là Văn nghệ) đăng bài báo “Chị em đồng ruộng”, bài báo đầu tiên của bà. Không lâu sau, cuốn sách dịch từ tiếng Pháp về nữ chiến sĩ Tây Ban Nha, tác phẩm đầu tay của bà ra đời.
Kháng chiến bùng nổ, bà rời Hà Nội lên chiến khu. Năm 1948, Báo Phụ nữ Việt Nam ra số đầu tiên, khổ báo nhỉnh hơn vở học sinh, trang đầu in thư tay của Bác Hồ. Bà cùng hai biên tập viên khác đi bộ 60km lấy minh họa và đi tiếp 40km đường rừng đến nhà in. Khi các bà mang tờ báo vừa ráo mực về đến cơ quan, mọi người òa vui, xúm quanh bếp lửa nhà sàn bập bùng, tranh nhau đọc ngay.
Hòa bình lập lại ở miền Bắc, bà trở về Báo Phụ nữ Việt Nam. Nguyệt Tú nhanh chóng thành cây viết chính, bà xông xáo đạp xe đường dài, liên tục vác xe lên xuống tàu hỏa. Nhiều hôm đường xa, quá bữa, bà chỉ ăn khoai, sắn luộc, vài đốt mía đỡ đói. Năm 1958, bà đi nước ngoài lần đầu, dự Đại hội Nhà báo quốc tế (OIJ). Tại Lidice, Tiệp Khắc (nay là Cộng hòa Séc), ngôi làng bị phát xít Đức hủy diệt, bà lặng người, mắt đỏ lên trước tấm ảnh học sinh bị thảm sát. Bài phóng sự bà viết, đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, còn nguyên nỗi bàng hoàng đó.
Có lần bà làm phóng sự ở một huyện “nổi như cồn”, tự túc lương thực, xây nhà cho thương binh, ngăn núi, đắp hồ... Bà tự đi tìm hiểu, tại nơi được giới thiệu có đông thanh niên “ngăn núi, đắp hồ”, bà chỉ thấy cánh đồng vắng vẻ, lác đác người già, trẻ con. Một bà cụ còn chút gạo, nấu với rau má mới đủ bữa, lấy đâu ra tự túc. Quay về trụ sở xã, không khí bỗng náo nhiệt, lúa gánh ùn ùn đến cân, hàng đàn dê được lùa về. Bà hỏi ra mới biết lãnh đạo sắp về thăm. Ít lâu sau, Báo Phụ nữ Việt Nam được Ban Tuyên huấn Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) nhắc đến là tờ báo đầu tiên nói thật về huyện này. Nghề báo chọn bà và bà chọn sự thật.
Đầu thập niên 1970, bà bắt đầu viết tác phẩm “Chị Minh Khai”, ý nguyện ấp ủ từ hình ảnh đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai giật khăn bịt mắt năm nào. May mắn, bà từng gặp ông Hoàng Văn Nọn, người cùng bà Minh Khai đi dự Đại hội Quốc tế Cộng sản năm 1935 và gặp hai liên lạc viên hồi bà Nguyễn Thị Minh Khai làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn. Đất nước liền một dải, bà tìm gặp nhiều người, đi nhiều nơi để lấy tư liệu. Năm 1976, cuốn “Chị Minh Khai” ra mắt với 40.000 bản, có lời đề tựa của đồng chí Lê Duẩn, sau đó tái bản hàng chục lần và xuất bản bằng tiếng Đức năm 1982...
Năm 1976, nhà văn Nguyệt Tú được giao làm Giám đốc Nhà xuất bản Phụ nữ. Hơn 10 năm làm công tác xuất bản, trải qua giai đoạn chuyển từ bao cấp sang kinh tế thị trường, bà luôn trăn trở và lo tìm bản thảo tốt, xoay giấy in, lo lương, xin giấy phép, bán giấy dôi dư... sao cho vừa ra sách, vừa lo nâng cao đời sống nhân viên. Bà làm “bà đỡ” cho nhiều bạn văn ra sách. Bà quan niệm đó cũng là nối dài nghề viết của mình.
Sau 40 năm làm việc, bà Nguyệt Tú đã “vẽ” lại các căn nhà thời gian trong hồi ký “Đường sáng trăng sao” của mình. Đó là căn nhà của nhà văn, nhà báo, nhà biên tập xuất bản và căn nhà thứ tư-căn nhà riêng, nhưng tất cả là một cuộc đời trọn vẹn cho cách mạng, cho văn học-nghệ thuật và báo chí.
TS NGUYỄN QUANG THẮNG