Một buổi sáng tháng 7-2026, tôi nhận được cuộc điện thoại của đồng chí Sự, nguyên xạ thủ B41, Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312, người trực tiếp tham gia trận đánh địch tái chiếm đồi Cây Mít thuộc làng Như Lệ, xã Hải Lệ, huyện Hải Lăng, nay thuộc phường Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị ngày 2-8-1972. Đồng chí Sự báo tin tại Nghĩa trang Liệt sĩ Hải Thượng có một bia mộ ghi đầy đủ họ tên, quê quán của đồng chí Phạm Văn Quỳnh, nguyên chiến sĩ Đại đội 10, Tiểu đoàn 6. Nhưng tham gia trận đánh đồi Cây Mít, anh Quỳnh bị thương, bị địch bắt và đã được trao trả tự do từ tháng 3-1973. Anh đã về quê lấy vợ và có 5 người con gái...
Sau cuộc điện thoại, tôi ngồi lặng hàng giờ hồi tưởng lại trận đánh địch tái chiếm đồi Cây Mít ngày 2-8-1972, rồi tự nhiên nước mắt cứ trào ra...
Tháng 4-1972, Sư đoàn 312 nhận lệnh hành quân gấp từ chiến trường Lào về Quảng Trị. Đơn vị về đến Nam Đàn (Nghệ An) thì tôi nhận quyết định làm Chính trị viên phó Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 165. Lúc này, Ban chỉ huy Đại đội chỉ có đồng chí Hoán, Đại đội trưởng và tôi. Anh Hoán đi trước cùng đoàn tiền trạm của Trung đoàn. Tôi chịu trách nhiệm dẫn lực lượng của Đại đội với 73 cán bộ, chiến sĩ (trong đó có hơn một nửa là lính mới) hành quân cùng đội hình Trung đoàn từ Nam Đàn tới bờ Nam sông Thạch Hãn. Để chuẩn bị đánh địch tái chiếm làng Như Lệ, Đại đội tôi được Tiểu đoàn bổ sung 10 đồng chí, trong đó có một đồng chí là Trung đội trưởng, còn lại là chiến sĩ mới từ Quân khu 3 đưa vào. Tôi trực tiếp tiếp nhận số cán bộ, chiến sĩ mới về đơn vị và biên chế vào các trung đội đang trực chiến.
    |
 |
Vợ chồng cựu chiến binh Phạm Văn Quỳnh bên bia mộ với đầy đủ thông tin về ông tại Nghĩa trang Liệt sĩ Hải Thượng (Quảng Trị). Ảnh: HÒA BÌNH
|
Khu đóng quân của Đại đội bộ ở trên một sườn đồi cách nơi ở của các đồng chí chiến sĩ mới khoảng 200m, nhưng chỉ cách đồi Cây Mít chừng 150m. Lúc này, đại bộ phận quân số của Đại đội 11 do anh Hoán phụ trách, đang chốt ở khu vực làng Như Lệ. Bộ phận “hậu phương” do tôi phụ trách chỉ có đồng chí Hồng, liên lạc; đồng chí Cơi, quản lý; đồng chí Hợp, y tá; đồng chí Là, anh nuôi và tiểu đội hỏa lực có đồng chí Cường, La và Sự, chốt ở sau hầm của tôi. Qua một đêm với giấc ngủ chập chờn, khoảng 5 giờ sáng, đồng chí Là đến đánh thức tôi dậy, nói với giọng hốt hoảng:
- Thủ trưởng ơi! Em xuống suối lấy nước nấu cơm, nghe như có bộ đội nói tiếng miền Nam ở quả đồi trước mặt.
- Chết thật! Ở đây làm gì có đơn vị Quân giải phóng nào. Có lẽ tối qua bọn địch lẻn vào chiếm đồi đấy.
Quan sát ít phút, chúng tôi khẳng định, đúng là lính ngụy. Trời sáng mất rồi, trở tay không kịp nữa. Không còn cách nào để liên lạc với các trung đội đang nằm ngay trong tầm mắt địch. Không có đường dây thông tin báo về Tiểu đoàn. Cả khối hậu phương của Đại đội 11 chỉ có một khẩu AK với 2 băng đạn và một khẩu súng ngắn của tôi. Ai mà ngờ được tình huống địch luồn sâu vào giữa đội hình đóng quân trong đêm tối. Có thể chính bọn địch cũng không thể ngờ có một tiểu đoàn “Việt Cộng” ở quanh đây. Nhưng bây giờ lại là ban ngày, khoảng thời gian hoàn toàn có lợi cho địch vì chúng chỉ cần ngồi ở vị trí cao quan sát, khi phát hiện đối phương thì chỉ điểm cho máy bay, pháo hạm bắn vào. Lúc này chỉ cần một hành động lộ liễu thì ngay lập tức hàng nghìn quả đạn pháo sẽ trút lên đầu chúng tôi. Trước tình huống đó, tôi lệnh cho anh nuôi không được nấu cơm, mọi người phải giữ bí mật tuyệt đối. Chỉ khi bộ binh địch tấn công trực tiếp vào đội hình ta thì mới được nổ súng, quyết chiến đấu tới cùng...
Hướng các chiến sĩ mới đang ở dọc bờ suối thì không ai có thể phát hiện địch đang ở đỉnh đồi. Đã lác đác có vài đồng chí xuất hiện trên đám ruộng khô. Thật là “lạy ông tôi ở bụi này”. Nhìn các đồng chí của mình đi lại vô tư trong khi chỉ cách địch hơn 100m mà tim tôi như thắt lại. Còn đang loay hoay chưa kịp nghĩ ra phương pháp nào để báo động cho anh em thì ngay lập tức một trận mưa pháo ập tới. Đại đội 12 ở quả đồi nhỏ bên cạnh và 10 chiến sĩ mới của Đại đội 11 đã nằm trong mịt mù khói đạn pháo.
Khoảng 8 giờ, từng đoàn máy bay phản lực thay nhau đến trút bom. Một vùng đất rộng chừng 2ha có cây xanh, chỉ sau 2 giờ đã chi chít hố bom, không còn một thân cây, ngọn cỏ nào đứng yên... Ở đối diện cách chừng 100m, nhìn thấy bạn hy sinh trong hoàn cảnh ngặt nghèo mà ngồi bó tay không làm gì được, lòng tôi đau như cắt. Đề phòng địch phát hiện, tôi vội lệnh cho anh em ở cùng hầm hủy tất cả các giấy tờ còn lưu giữ.
Hôm sau, tôi, anh La, anh Sự, anh Hợp trở lại con suối cạn tìm mãi mới được 3 thi thể. Các đồng chí hy sinh toàn là lính mới. Chúng tôi đưa anh em tới khu đất đã có sẵn khoảng 20 mộ mới chôn vài ngày trước. Thế mà đã có những mộ bị bom pháo đào lên. Lại có một cáng tử sĩ còn nằm nguyên trong võng và bên cạnh có 2 người hy sinh chưa được khâm liệm. Vậy là chúng tôi phải đào tới 6 hầm huyệt. Rồi lại đi nhặt xương thịt của các đồng chí bị bom đạn cày xới đưa về chôn lại. Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất đến nay, không biết bao nhiêu lần chúng tôi tổ chức cùng nhau về Quảng Trị tìm kiếm phần mộ của các anh mà vẫn vô vọng...
    |
 |
| Các cựu chiến binh Sư đoàn 312 và người thân trong ngày về Quảng Trị xác minh thông tin trên bia mộ liệt sĩ, tháng 7-2026. Ảnh: HÒA BÌNH |
Trở lại việc anh Sự báo tin, ngay lập tức chúng tôi kết nối anh em ở các nơi, hẹn ngày về lại Như Lệ. Sáng 20-7-2026, tôi đã gặp được anh Sự, chị Linh (vợ anh Sự), anh Quỳnh, chị Ruộm (vợ anh Quỳnh), anh Tuyến, chị Phương (vợ anh Tuyến), anh Bảo, chị Mùi (vợ anh Bảo) và nhiều đồng đội tại làng Như Lệ. Phút gặp lại sau 54 năm ai cũng rơi nước mắt. Chúng tôi hỏi anh Quỳnh về trường hợp anh bị địch bắt, anh kể: “Khoảng 8 giờ ngày 2-8-1972, Đại đội 10 được lệnh của Tiểu đoàn vận động tấn công bọn địch vừa tái chiếm đồi Cây Mít. Tôi là tân binh, được trang bị một khẩu B41, vận động cùng đồng đội trên một triền đồi cỏ tranh bị đốt cháy nham nhở. Do địa hình trống trải nên bọn địch đã phát hiện chúng tôi từ xa. Chúng liền gọi pháo binh bắn hàng nghìn quả đạn, rồi gọi máy bay đến trút bom tan hoang, làm chúng tôi không thể lên được. Tôi và 3 đồng chí khác đành chui vào một căn hầm có sẵn. Một quả pháo rơi trúng hầm làm 3 đồng chí hy sinh, còn tôi bị thương nhưng mù cả 2 mắt. Tôi gắng dùng tay cào bới đất mấy giờ liền mới ra được khỏi hầm. Lúc này miệng khát, bụng đói, người đau và run cầm cập, mắt thì không còn nhận ra phương hướng. Tôi cứ bò đi vô định, chỉ mong gặp được đồng đội hoặc một vũng nước để uống. Cũng nhờ nhiệt độ ban ngày nóng bỏng rát còn ban đêm lại sương lạnh, tôi mới phân biệt được ngày đêm. Bò tới ngày thứ hai, tôi lả đi, khi tỉnh dậy lại bò tiếp. Không ngờ tôi bò vào miệng một hố bom, đất sụt đẩy tôi xuống đáy hố bom có một ít nước. Tôi nghĩ thật là trời cứu mình rồi. Tôi gục đầu xuống uống no nước, ngồi nghỉ một lúc rồi định bò lên miệng hố bom nhưng sức tôi yếu nên không thể nào trườn lên được. Vậy là tôi đành nằm lại hố bom với tư thế nửa người dưới nước, nửa người trên cạn. Sang ngày thứ 3, tôi nghe có tiếng người và tiếng bước chân đi tới gần mình. Nghe giọng nói người miền Nam, tôi đoán đây là quân địch. Phát hiện tôi còn sống, họ cầm chân tay tôi khiêng lên miệng hố bom rồi cho tôi lên máy bay trực thăng đưa về Huế. Bấy giờ chúng mới bắt đầu tra khảo. Tôi khai họ tên Phạm Văn Quỳnh, là tân binh nên không biết chỉ huy tên gì...
Do vết thương của tôi hoại tử, lại không khai thác được gì, chúng đưa tôi về Bệnh viện Duy Tân ở Đà Nẵng điều trị. Sau một thời gian, các vết thương của tôi đỡ nhiều, mắt tôi sáng dần ra nên chúng cho tôi ra viện và đưa tôi ra đảo Sơn Trà giam 1 tháng, rồi chúng đưa tôi ra đảo Phú Quốc giam khoảng 3 tháng thì được trao trả tự do vào ngày 14-3-1973. Tôi được về đoàn an dưỡng ở Chí Linh và được về thăm nhà trong niềm vui khôn tả của gia đình, bà con và chính quyền địa phương.
Gần đây tôi có nghe tin các CCB báo tôi có tên trên bia mộ liệt sĩ mà chắc chắn người nằm trong mộ không phải là tôi nên tôi cùng vợ và đồng đội về thăm lại nơi tôi từng chiến đấu, bị thương và bị bắt. Cũng trong dịp này, tôi tha thiết đề nghị các ngành chức năng xóa tên tôi trên bia mộ để tìm lại tên đồng đội đang nằm dưới mộ”.
Sau khi nghe chuyện của anh Quỳnh, chúng tôi đã tìm đến đồi Cây Mít, nơi chúng tôi từng chiến đấu một mất một còn và tìm về Nghĩa trang Liệt sĩ Hải Thượng viếng đồng đội. Trong hoàn cảnh hiện nay, chúng tôi hiểu việc đi tìm, xác định người hy sinh đang nằm dưới mộ kia là “mò kim đáy bể”, nhưng vẫn xin được xóa tên anh Quỳnh trên bia mộ với hy vọng mong manh, biết đâu có kỳ tích xảy ra. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong Chiến dịch 500 ngày đêm, chúng ta có thể tìm được tên của liệt sĩ!
TRỊNH DUY SƠN