Chúng tôi đến nhà riêng của Anh hùng LLVT nhân dân Phan Nhạn trên đường Lý Nam Đế (phường Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa). Ở tuổi 94, sức khỏe đã giảm sút nhưng ông vẫn còn mẫn tiệp.

Sinh năm 1933 tại Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai), Phan Nhạn sớm giác ngộ cách mạng và tham gia lực lượng du kích địa phương đánh Pháp từ năm 17 tuổi. Năm 1954, ông cùng đoàn cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Sau đó, ông được cử đi học văn hóa, đào tạo chuyên sâu về cơ điện tàu thủy. Khi Trung ương quyết định mở tuyến vận tải chiến lược trên Biển Đông, Phan Nhạn được tuyển chọn vào Đoàn 125-Đoàn tàu không số và đảm nhiệm vị trí máy trưởng.

Chúng tôi đề nghị ông kể về những ngày tháng gian khổ cùng những con tàu không số, hải trình trên biển, đưa vũ khí, hàng hóa vào chiến trường miền Nam, ông đưa bàn tay gầy guộc gõ nhẹ lên thái dương, như một thói quen đánh thức vùng ký ức đã gói sâu trong tâm trí suốt hơn nửa thế kỷ đã qua.

Ông chưa kể ngay mà đọc mấy câu thơ của nhà thơ Văn Quang, như giải thích với chúng tôi vì sao Đoàn 125 lại gọi là Đoàn tàu không số:

Tàu không số...

Không phải vì không có số

Giấu số đi che mắt kẻ thù

Ra đi khi sóng gầm bão tố

Ra đi khi sương gió mịt mù...

Rồi ông nói: “Đời tôi gắn với biển, nhưng những ngày “xẻ sóng” trên tàu không số là ký ức sâu đậm nhất. Vượt qua dông bão đại dương đã khó, nhưng đấu trí với kẻ thù giữa ranh giới sống chết còn nghẹt thở hơn gấp nhiều lần”.

Có tay nghề giỏi và bản lĩnh vững vàng, ông luôn được cấp trên tin tưởng giao phó cho đi những hải trình đặc biệt khó khăn, mở các tuyến đường và bến bãi mới. Từ năm 1962 đến cuối năm 1968, ông đã trải qua 15 hải trình trên 7 con tàu khác nhau, đưa hàng nghìn tấn vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam.

leftcenterrightdel
 Đoàn công tác Tỉnh ủy Khánh Hòa và các đại biểu thăm, tặng quà Anh hùng LLVT nhân dân Phan Nhạn, tháng 2-2026.

Ông còn nhớ như in chuyến đi đầu tiên vào tháng 10-1962 hướng về mũi Cà Mau. Tàu vừa ra khơi thì gặp đợt gió mùa Đông Bắc dữ dội, sóng lớn đánh bạt khiến hệ thống vô tuyến điện bị hỏng, hoàn toàn mất liên lạc với đất liền. “Không có thiết bị thông tin liên lạc giống như người đi trong đêm tối bị mù mà không có gậy”, ông Nhạn bảo. Giữa ranh giới sống chết, chi bộ trên tàu đã họp cấp tốc và đưa ra quyết định cho tàu chạy men theo triền bờ. Bằng sự mẫn cảm của những người đi biển và tinh thần kiên định, con tàu lầm lũi bò từng hải lý suốt 8 ngày đêm để cập bến an toàn. Ngày bàn giao hàng, cán bộ bến ôm chầm lấy thủy thủ đoàn vỡ òa nước mắt vì trước đó họ tưởng tàu đã gặp chuyện chẳng lành giữa biển sâu.

Bản lĩnh của người máy trưởng còn thể hiện rõ trong trận đánh tháng 11-1966 tại bãi ngang ở Đức Phổ, Quảng Ngãi,  khi Tàu 41 bị tàu chiến địch phát hiện. Để bảo vệ bí mật tuyến đường và số hàng, mệnh lệnh bắt buộc là phải hủy tàu. Thuyền trưởng ra lệnh cho toàn bộ thủy thủ rút lên bờ, riêng mình ở lại điểm hỏa. Nhận thấy nguy hiểm, ông Nhạn kiên quyết xung phong thay thuyền trưởng nhận nhiệm vụ.

“Lúc đó, tôi chỉ nghĩ làm sao bảo vệ được đồng đội và bí mật của bến...”, ông Nhạn kể.

Ký ức khó quên nhất đối với Anh hùng Phan Nhạn là chuyến đi cuối năm 1968. Tàu vừa ra khơi đã bị 4 máy bay và 7 tàu chiến địch bám đuổi, phát loa yêu cầu dừng kiểm tra. Ngay sau đó, thêm 4 tàu chiến thuộc Hạm đội 6 của Mỹ áp sát, dùng súng máy 14,5mm bắn xối xả xung quanh. Tàu nhận lệnh nghi binh chuyển hướng sang vùng biển Singapore. Trên tàu lúc này đã cài sẵn hơn 1 tấn thuốc nổ ở 5 vị trí xung yếu.

leftcenterrightdel

 Anh hùng LLVT nhân dân Phan Nhạn (bên phải) trò chuyện với tác giả. Ảnh: VĂN MAI

Ông Nhạn trầm giọng: “Anh em chúng tôi xác định, nếu địch áp sát bước lên ca-bin kiểm tra là lập tức kích nổ, chấp nhận hy sinh để tiêu diệt đối phương chứ nhất quyết không để lộ bí mật”. Cuộc đấu trí căng thẳng kéo dài suốt 7 giờ. Thấy không thể khuất phục được con tàu ngụy trang, đến 5 giờ sáng, tàu địch đành bỏ cuộc.

Tết Ất Tỵ 1965 tại Vũng Rô, Tàu 41 do Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh chỉ huy nhận lệnh phải cập bến Vũng Rô đúng thời khắc Giao thừa. Để mang lại không khí xuân cho đồng bào và chiến sĩ trên bến, anh em trên tàu đã chuẩn bị những món quà Tết không nhãn mác. Ông Nhạn cùng đồng đội ngồi gói bánh chưng trên khoang tàu lắc lư theo nhịp sóng. Chiều Ba mươi Tết, khi tàu lách qua các tuyến tuần tra để hướng vào bờ thì đài quan sát báo tin phát hiện tàu chiến địch đang tiến lại gần.

Để tránh bị nghi ngờ, chỉ huy cho tàu đổi hướng đi song song và dựng một “vở kịch” vô tiền khoáng hậu ngay trên ca-bin. Ông Nhạn khoác chiếc áo đông xuân, mặc quần soóc, đội mũ lá, một tay cầm cây đàn mandolin gảy tưng tưng, tay kia giơ chai rượu ngoại ngửa cổ uống rồi ngoắc tay mời địch “sang làm vài ly”. “Ngoắc chúng mà trong lòng tôi lo thót tim, lỡ chúng mò sang thật thì lộ hết! Thật may, thấy tác phong phóng khoáng ấy, chúng nghĩ là tàu cá hay tàu thương mại nên không nghi ngờ rồi bỏ đi”, ông Nhạn cười nhớ lại.

Gần 12 giờ đêm hôm đó, tàu thả xuồng áp mạn bến Vũng Rô. Đúng lúc hai bên ôm chầm lấy nhau nghẹn ngào thì qua đài báo vụ vang lên tiếng Bác Hồ đọc thơ chúc Tết. Liên hoan mừng xuân diễn ra ngay trên nắp khoang hầm hàng ngụy trang. Giữa ranh giới bom đạn, cành đào Nhật Tân đỏ thắm mang từ Hà Nội khoe sắc bên nhành mai vàng rực rỡ hái từ núi Đá Bia, làm ấm lòng những người con xa quê.

Có lẽ hình ảnh xúc động nhất với ông Nhạn là tối mồng Một Tết, hàng chục cô gái dân công dầm mình dưới nước biển để bốc xếp vũ khí, rồi lại xúc từng gùi cát đưa xuống hầm tạo độ đằm cho tàu ra khơi. Trước giờ chia tay, một nữ dân công đã nén xúc động, trao tận tay thuyền trưởng một gói nhỏ bọc trong chiếc khăn tay: “Em gửi nắm đất Vũng Rô ra Bắc. Mảnh đất này đã nhiều lần bom đạn cày xới nhưng vẫn một lòng trung kiên. Nay có vũ khí miền Bắc đem vào, nhất định chúng em sẽ lập nhiều chiến công”. Nắm đất đó, sau này được ông Thạnh trao lại cho Bảo tàng Hải quân lưu giữ.

Năm 1969, ông Phan Nhạn chuyển ngành sang công tác tại Quốc doanh đánh cá cho đến khi nghỉ hưu năm 1990. Trở về đời thường, ông sống khiêm nhường, luôn giữ trọn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Ngày 25-4-2015, ông vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

MAI VĂN ĐÔNG