Từ Hà Nội, chúng tôi theo Đường Hồ Chí Minh hướng về miền núi phía Tây Thanh Hóa, đến thăm gia đình liệt sĩ Lê Đình Tế, ở thôn Minh Thọ, xã Minh Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ngôi nhà mà bà Lê Thị Nha-vợ liệt sĩ Lê Đình Tế đang ở khá tuềnh toàng. Bà sống cùng con gái Lê Thị Vực, vợ chồng cháu gái và các chắt.

Điều khiến chúng tôi không khỏi chạnh lòng là gia đình chưa có nơi thờ tự riêng dành cho liệt sĩ Lê Đình Tế. Ban thờ của gia đình đặt trên một góc cao, sát vì kèo. Tấm bằng Tổ quốc ghi công cũng không có chỗ trang trọng để treo. Trải qua thời gian dài, tấm bằng không còn nguyên vẹn, may mà những thông tin quan trọng như tên liệt sĩ, con dấu và chữ ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng... vẫn còn có thể đọc được.

Bà Nha ngồi lặng một chỗ. Ở tuổi 92, bà không tự đứng lên hay đi lại được. Mỗi lần cần di chuyển, con cháu phải bế hoặc đỡ hai bên nách. Bà không mắc bệnh hiểm nghèo, vẫn ăn uống được, tuy mỗi bữa không nhiều. Lời nói của bà không còn lưu loát, nghe và hiểu được câu nào, bà khẽ “ừ”, “à” câu ấy.

Bà Lê Thị Vực kể: “Thời trẻ, mẹ tôi là cô gái Mường nhanh nhẹn, tháo vát và chịu thương chịu khó. Mẹ sinh năm 1935, cùng quê với bố. Bố tôi sinh năm 1937. Hai người nên duyên vợ chồng rồi sinh được hai con gái, tôi sinh năm 1964 và em gái tôi-Lê Thị Hòa, sinh năm 1966.

Tháng 12-1965, bố tôi nhập ngũ. Mẹ tôi ở nhà chăm sóc bố mẹ chồng và nuôi hai con thơ với muôn vàn thiếu thốn. Vất vả đến mấy mẹ tôi vẫn mong chờ tin của bố với hy vọng ngày đất nước thống nhất, bố tôi hoàn thành nhiệm vụ trở về...”.

leftcenterrightdel

 Bà Lê Thị Nha (bên phải) và con gái cùng tấm bằng Tổ quốc ghi công của liệt sĩ Lê Đình Tế. Ảnh: PHẠM DẦN

Sau khi huấn luyện và qua một số vị trí công tác, đến tháng 3-1968, ông Lê Đình Tế và đồng đội được bổ sung về Trung đoàn 141, Sư đoàn 7. Ông Đỗ Văn Thuận, cùng tiểu đội với ông Tế, cùng hành quân vào chiến trường miền Nam, hiện cư trú tại số nhà 12, ngõ 25, đường Nguyễn Tất Thành, phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ, kể: “Tối 20-4-1968, chúng tôi hành quân vào sâu chiến trường miền Đông Nam Bộ. Khi đến khu vực thuộc xã An Long, TP Hồ Chí Minh hiện nay, tốp đi đầu bất ngờ lọt vào ổ phục kích của một trung đội lính Mỹ. 10 cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 141 đã hy sinh, trong đó có ông Lê Đình Tế. Khi ấy tôi mang súng trung liên, đi tốp phía sau nên không lọt vào ổ phục kích của địch.

Thi thể của các đồng chí hy sinh được an táng ở khu vườn của một gia đình tại địa phương. Sau này, tôi trở lại nơi ấy cùng thân nhân của các liệt sĩ, đưa 3 liệt sĩ trong số 10 liệt sĩ ấy trở về quê hương vào năm 2011 và 2020”.

Kỷ vật quý giá nhất còn lại của liệt sĩ Lê Đình Tế là một tấm ảnh chân dung. Trong ảnh, ông đội mũ cối, đeo quân hàm trung sĩ, gương mặt sáng, cương nghị và đầy sức trẻ.

Ông Tế hy sinh khi bà Nha mới ngoài 30 tuổi. Hơn 60 năm qua, bà Nha nuôi con trưởng thành và giữ trong lòng hình bóng người chồng đã hy sinh.

Khi được hỏi về nguyện vọng lớn nhất của bà Lê Thị Nha và gia đình, câu trả lời không phải là một sự hỗ trợ vật chất hay điều gì cao xa, bà chỉ mong khi các điều kiện cần thiết được giải quyết, liệt sĩ Lê Đình Tế có thể trở về yên nghỉ tại quê hương. Mong rằng, từ lời xác nhận của cựu chiến binh Đỗ Văn Thuận, từ hồ sơ của đơn vị và sự phối hợp của các cơ quan chức năng, tâm nguyện chính đáng của gia đình bà Lê Thị Nha sẽ được quan tâm, giải quyết chu đáo, để người hy sinh được đón nhận bằng trọn vẹn nghĩa tình và người vợ liệt sĩ có thêm một niềm an ủi trong những ngày cuối đời.

TRẦN MIÊU