Tò mò vì cách định danh đó, chúng tôi ghé thăm động Từ Thức trước. Vào hang động, theo chân hướng dẫn viên nhìn lối xuống âm phủ cùng lối lên trời, chúng tôi cảm nhận ngay được phong cách sống của Hữu Loan-một nhà thơ nhân hậu, yêu đời, yêu quê hương, dẫu có lên tiên như Từ Thức cũng chỉ sống với tiên được mươi ngày. Chàng lãng tử Từ Thức xưa mới bén duyên tiên nữ Giáng Hương ít lâu đã dứt áo vợ, nằng nặc trở về quê hương. Động Từ Thức là hang động nằm trong một quả núi của dãy Tam Điệp. Chỉ đi quá vài trăm mét khỏi cửa động Từ Thức là ta chạm cửa biển Thần Phù. Hai câu ca dao xưa: “Lênh đênh qua cửa Thần Phù/ Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm” nhắc mọi người nhớ đến truyền thuyết về đạo sĩ Áp Lãng Chân Nhân cưỡi thuyền đè sóng dữ, đi trước, mở đường cho vua Lý Thái Tông dẫn thủy đoàn vào Nam bình Chiêm, giữ yên bờ cõi.
    |
 |
| Chân dung nhà thơ Hữu Loan. |
Từ hang Từ Thức, xe chạy thêm vài cây số, chúng tôi đã chạm núi Mai An Tiêm-“trang trại” của người con nuôi Vua Hùng bị vua cha đày ra đảo Nga Sơn. Nhưng từ vùng núi rừng ngập mặn hoang vu này, vợ chồng Mai An Tiêm đã tìm ra giống dưa hấu đỏ, giúp dân chài Nga Sơn thêm nghề trồng dưa, kết nối với các thuyền buôn Trung Quốc và dân các đảo xa. Dọc đường vào Nga Lĩnh, nơi có ngôi mộ nhà thơ, chúng tôi gặp rất nhiều gia đình phơi chiếu. Nga Sơn còn là quê chiếu, vốn đã được nhắc đến trong câu ca dao quen thuộc: “Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng/ Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông”. Những chiếc chiếu hoa Nga Sơn ở đây được dệt nên từ cói. Những đồng cói xanh ngăn ngắt, bạt ngàn, đổ dài ra biển. Màu cói xanh như xóa cả vết chân trời, hòa vào nền trời thu xanh thắm.
Dọc đường đến nhà lưu niệm Hữu Loan, chúng tôi vẫn phân vân thầm hỏi: Mảnh đất nào dưới chân mình còn lưu hơi ấm dấu chân nhà thơ? Trong mấy lần dừng xe hỏi đường, chúng tôi nghe một nhóm bà con tranh cãi, trong lời qua tiếng lại có nhắc tới hai tiếng “Ba Đình”. Hai tiếng “Ba Đình” vang lên trang trọng, khiến chúng tôi liên tưởng tới Quảng trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Hóa ra quảng trường trước Phủ toàn quyền năm 1945 mang tên Ba Đình lại có xuất xứ từ chính mảnh đất này, do bác sĩ Trần Văn Lai-một trí thức có tinh thần dân tộc từng làm Đốc lý Hà Nội khởi xướng và sau này được Chính phủ ta ghi nhận. Ba Đình ở Nga Sơn là tên gọi gộp của 3 làng: Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh, vì mỗi làng đều có một ngôi đình xây cao, chụm vào nhau tạo thế chân kiềng. Đó là tên gọi của cuộc khởi nghĩa chống Pháp của các nho sĩ và nghĩa binh Thanh Hóa trong Phong trào Cần Vương.
Chúng tôi may mắn được địa phương biết tin, cử cán bộ phụ trách văn hóa trực tiếp dẫn đường. Trước khi vào nhà cụ Hữu Loan, anh cán bộ đưa chúng tôi vòng về Khu di tích Ba Đình. Ngay sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa, quân Pháp đã phá hết đình chùa, triệt hạ cả 3 làng nổi dậy đó. Cho đến nay, 3 ngôi đình chỉ còn sót lại mấy hàng gạch chân móng với mấy chục viên ngói cổ. Một dự án phục hồi di tích lịch sử đang được triển khai, sắp đến ngày hoàn thiện. Nhà thờ liệt sĩ Ba Đình, thành lũy, chiến hào đang được xây mới, khai thông. Tiến độ phục chế đang được đẩy mạnh để tháng 11 sắp tới sẽ tổ chức Giỗ trận và kỷ niệm 140 năm Khởi nghĩa Ba Đình (1886-2026).
Anh cán bộ văn hóa kể rằng, năm xưa thấy cụ Hữu Loan hay đến thắp hương ở khu phế tích Ba Đình, có người đã hoài nghi, hỏi cụ: Phải chăng cụ là hậu duệ của quan Tri phủ Nguyễn Đôn Tiết, một nhà nho đỗ Phó bảng nhưng chỉ làm tri phủ vài năm rồi treo ấn từ quan, cùng Đinh Công Tráng, Phạm Bành và các nho sĩ Nga Sơn lập chiến lũy Ba Đình, dựng cờ kháng Pháp? Nghe hỏi, nhà thơ Hữu Loan chỉ cười lấp lửng trả lời: “Nếu không hậu duệ thì là hậu bối, chúng ta cũng đều là con cháu các cụ cả thôi”.
Câu chuyện của anh cán bộ văn hóa xã kết hợp với hồi ức của các cựu chiến binh Nga Sơn kể mấy tiếng đồng hồ sau đó bên mộ cụ Hữu Loan đã cho chúng tôi hình ảnh về những trang đời chói sáng nhất của tác giả bài thơ “Màu tím hoa sim”.
Nhà thơ Hữu Loan tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn (nay là xã Nga Thắng), tỉnh Thanh Hóa. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng kiên quyết không để rơi vào cảnh thất học. Ngay từ thời niên thiếu, ông đã xin cha mẹ cho thoát ly lên tỉnh, vừa đi học vừa đi làm, hành nghề gia sư, dạy cho chính các bạn học cùng lớp, vốn là những đứa trẻ con nhà giàu. Tốt nghiệp thành chung ở Thanh Hóa, một thời gian sau, ông xoay xở tiền mua vé tàu ra Hà Nội dự thi tú tài. Mục đích, động cơ chỉ là muốn chứng tỏ học lực của học trò nghèo xứ Thanh và bản lĩnh của con cháu nghĩa binh Ba Đình. Ông đỗ điểm cao, lấy bằng Tú tài toàn phần, cùng khóa năm 1938 với các danh nhân như: Nhà thơ Nguyễn Đình Thi, Đỗ Thiện, Trịnh Văn Xuân...
“Yêu nước, ghét Tây”, Hữu Loan không nhận lời mời đi làm công chức mà tiếp tục nghề gia sư tiếng Pháp cho các gia đình quen biết, kết hợp với hoạt động Mặt trận bình dân và tham gia các phong trào yêu nước. Năm 1943, ông về quê, tham gia Phong trào Việt Minh. Khi cuộc Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông nhận trọng trách làm Phó chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa huyện. Những người bạn vong niên của ông tới ngày nay còn nhớ, ông Tú Loan dẫn đầu đoàn quân khởi nghĩa, kéo lên huyện lỵ Nga Sơn giành chính quyền. Quan huyện đã gói con dấu từ tuần trước đó, trải chiếu hoa kín ngõ, chờ Việt Minh đến để bàn giao. Đoàn người tay không vũ khí, nhưng có ông Tú tài toàn phần nổi tiếng hay chữ dẫn đầu đã như hóa thành cơn cuồng phong bay đi thu hồi chính quyền hàng chục xã liền. Không ai không phục tài hùng biện của ông Tú Nguyễn Hữu Loan. Mọi người còn nhớ như in hình ảnh ông Tú trẻ chưa vợ, đứng trên khán đài nói chuyện, vận động quyên góp trong Tuần lễ vàng. Không ít thiếu nữ cùng các bà, các cô nghe anh Tú Loan diễn thuyết mà phải tháo nhẫn cưới, hoa tai, chạy lên khán đài cho vào “cóng bơ Chính phủ”.
Cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 ở Nga Sơn diễn ra trong hòa bình. Tự vệ của Việt Minh không phải nổ một phát súng nào. Chính trong những ngày sục sôi khí thế cách mạng đó, chàng trai Nguyễn Hữu Loan đã viết những dòng thơ đầu tiên. Đó là những câu thơ cách mạng mà như ông thừa nhận là “không hay, chỉ có khí phách tuyên truyền”. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban Hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách cùng lúc cả 3 ty của tỉnh.
Nhưng chỉ sau nửa năm, cảm thấy mình không đủ tố chất lãnh đạo, chàng Tú Loan quyết định đầu quân. Trở thành Bộ đội Cụ Hồ, anh Tú Loan cũng thoắt trở thành “anh chồng độc đáo” của cô học trò nhỏ Lê Đỗ Thị Ninh năm xưa. Chính Tổng thanh tra Canh nông Đông Dương Lê Đỗ Kỳ (sau là đại biểu Quốc hội khóa I) đã gọi anh Tú về gả con gái cho anh. Hình như suốt đời nhà thơ cái gì cũng vội. Chỉ sau 3 tháng, vợ mất, “chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh”. Bài thơ “Màu tím hoa sim” ra đời, không in mà lưu truyền rộng rãi, nhanh như tác phẩm dân gian truyền miệng. Bài thơ định mệnh đó đã trở thành con dao hai lưỡi cắt cuộc đời nhà thơ thành nhiều khúc nhỏ. Trong những năm kháng chiến, ông chưa một lần đọc bài thơ đó cho ai nghe. Đã có người khác, đồng đội, bạn bè thuộc lòng, đọc hộ, ông nghe.
Năm 1958, ông từ giã văn đàn, đưa người vợ thứ hai cùng 3 đứa con nhỏ rời Thủ đô về quê kiếm sống. Sinh tới người con thứ 10, ông vẫn chỉ kiếm sống bằng nghề đào đá. Văn học Việt Nam mất một nhà thơ, nhưng quê hương Nga Sơn của ông thêm một người thợ xây dựng. Nhà nào có ao cá, ông đội một phiến đá đến kê cho làm cầu ao, miễn phí. Không làm thơ, ông chuyển sang làm ca dao, viết khẩu hiệu cổ động cho các phong trào nông nghiệp. Những bức tường vôi Nga Lĩnh, Ba Đình và các xã lân cận một thời vẫn đăng các câu ca dao đề lạc khoản hai chữ Tú Loan. Mỗi câu ca dao ông viết được hợp tác xã trả nhuận bút một công, quy ra thóc, thanh toán ngay cuối vụ. Điều làm ông cảm thấy hạnh phúc nhất là khi bắt gặp các cháu học sinh vỡ lòng đánh vần, học thuộc những câu thơ lục bát của ông.
Hai mươi năm đào đá nuôi con, các con của vợ chồng ông đã phương trưởng, thành đạt, có người là doanh nhân, kiến trúc sư, học vị tiến sĩ. Đời thơ ông ngắn nhưng cuộc đời đã lật đến những trang vui, cho dù đó là trang cuối!
PGS, TS PHẠM THÀNH HƯNG