Chào đời năm 1919 tại Hoằng Hóa, Thanh Hóa, nhà thơ Thôi Hữu có tên khai sinh là Nguyễn Đắc Giới, thuở nhỏ học ở quê nhà, sau vào Trường Kỹ nghệ thực hành Huế. Chàng trai trẻ viết báo và làm thơ từ khá sớm. Dẫu rất giàu tâm huyết và sôi nổi khát vọng của một thanh niên yêu nước, song thơ anh vẫn chưa vượt lên khỏi mặt bằng chung lúc bấy giờ. Được giác ngộ lý tưởng cách mạng, năm 1940, Nguyễn Đắc Giới bỏ học, tham gia hoạt động. Trước đó, anh đã tham gia trong tổ chức Đoàn Thanh niên Dân chủ với tên là Trần Văn Tấn, nên lấy bút hiệu là Tân Sắc.

Mấy năm trước, nhân vài lần có dịp hầu chuyện ông Mười Hương (Trần Quốc Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương), người chỉ huy tình báo tài ba của Việt Nam, tôi biết thêm nhiều điều liên quan đến nhà thơ Thôi Hữu. Hóa ra, từ năm 1942, trong thời gian tham gia hoạt động cách mạng, ông Mười Hương đã kết thân với các ông Nguyễn Đắc Giới (biệt danh Giới “xồm”), Phạm Triều... Mặc dù kém Thôi Hữu đến 5 tuổi, song ông Mười Hương lại chơi thân và rất quý trọng người bạn vong niên này. Tuy sống ở Hà Nội nhưng Nguyễn Đắc Giới vẫn thường xuyên cộng tác với Tạp chí Bạn đường do phong trào Hướng đạo Thanh Hóa khởi xướng và tổ chức. Nhà thơ Trần Mai Ninh (Nguyễn Thường Khanh) cũng từng viết nhiều bài cho tạp chí này. Nhờ việc Tỉnh ủy Thanh Hóa nhanh nhạy tìm cách bố trí đưa người vào chỉ đạo, nên Bạn đường là tờ báo sớm có ảnh hưởng trong tầng lớp trí thức và công chức ở vùng Bắc Trung Bộ, lan rộng ra tận Hà Nội.

leftcenterrightdel
Nhà thơ Thôi Hữu (1919-1950). Ảnh tư liệu

Lúc ở ATK, Thôi Hữu kể cho ông Mười Hương nghe chuyện, từ tháng 3-1942, nhà thơ Tố Hữu (Nguyễn Kim Thành) vượt ngục Đăk Glei (Kon Tum), tìm về gây dựng cơ sở và chắp nối liên lạc với tổ chức đảng ở Thanh Hóa. Vốn cùng hoạt động trong phong trào thanh niên ở Huế nên Tố Hữu tìm gặp Nguyễn Đắc Giới. Hai người nhận thấy rằng xứ Thanh và miền Trung đang bị gián đoạn liên lạc với Trung ương, tình hình rất khó khăn. Biết bạn mình có nghề thợ điện vững vàng, Nguyễn Kim Thành gợi ý anh Giới nên sử dụng nghề đó ra Hà Nội làm ăn, vừa dễ bề che mắt chính quyền thực dân, vừa để tìm cách kết nối liên lạc với Trung ương Đảng. Bởi lúc này, có nhiều tù chính trị vượt ngục về, Trung ương được tăng cường và đang hoạt động mạnh ở vùng ven Hà Nội.

Nguyễn Đắc Giới lập gia đình. Người vợ là cháu của đồng chí Tô Hiệu (1912-1944), một chiến sĩ cộng sản hoạt động ở Hải Phòng, Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, hy sinh tại ngục Sơn La. Thôi Hữu hoạt động trong phong trào truyền bá quốc ngữ và phong trào dân chủ do Đảng lãnh đạo. Ông giao thiệp rộng, quen biết nhiều. Các ông Lê Tất Đắc, người Thanh Hóa và ông Nguyễn Tạo, người Hà Tĩnh, vừa trốn tù thực dân về, thường hay ghé đàm đạo với Thôi Hữu.

Là đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương, giỏi tiếng Pháp, Thôi Hữu được phân công làm công tác binh vận dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Văn Thụ, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau khi Hoàng Văn Thụ bị thực dân Pháp bắt và xử tử, bộ phận binh vận do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp điều hành. Bấy giờ, cơ quan binh vận của ta ở vùng Bạch Mai, nhưng Thôi Hữu thường phải đi công tác xa. Họa hoằn lắm, ông Mười Hương mới gặp được bạn chỉ trong chốc lát. Địa bàn hoạt động của Thôi Hữu khá rộng, lúc thì ở ngoại thành Hà Nội, khi lên cả Việt Trì, hay dạt sang mạn Tâng (Sơn Tây), những nơi có nhiều đơn vị quân đội Pháp đồn trú, để bắt liên lạc với những người có cảm tình với cách mạng Việt Nam đang ở trong đội quân lê dương.

Không lâu sau đó, Thôi Hữu bị rơi vào tay địch. Hay tin, ông Mười Hương rất lo lắng, muốn biết bạn mình bị giam giữ ở đâu, tình hình thế nào. Lần tìm đến một người quen ngày trước từng ở cùng pô-pốt (popote, một kiểu nhà trọ) ở số 6 phố Công sứ Miribel (Rue Résident Miribel, nay là phố Trần Nhân Tông, Hà Nội) hỏi thăm, được bắc cầu qua một nữ y tá làm ở nhà thương Bạch Mai thì lần ra manh mối. Ông được cho biết mật thám vừa đưa một người còn trẻ, đẹp trai, nói tiếng Tây rất thạo, nhốt vào nhà thương điên. Ai hỏi, anh ta chỉ nói tên là Giới “xồm”. Vì quá thương bạn, Mười Hương cậy nhờ nữ y tá giúp đỡ. Lợi dụng nửa đêm, khi lính gác sơ hở, ông mặc blouse trắng trùm đầu và được dẫn vào thăm Thôi Hữu. Biết là cực kỳ nguy hiểm nên chỉ gặp nhau vài phút, Thôi Hữu vội nhắc bạn phải đi ngay.

Cuối năm 1944, Thôi Hữu vượt ngục, tiếp tục tham gia công tác cách mạng. Ông làm Báo Hồn nước của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Báo Cờ Giải phóng, cơ quan tuyên truyền cổ động của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương được Bộ Nội vụ cấp phép xuất bản công khai. Tổng Bí thư Trường Chinh là người trực tiếp chăm lo xây dựng tờ báo, tăng cường cho báo các ông: Thôi Hữu, Sơn Tùng (Lê Hữu Kiều, Nam Mộc), Nguyễn Huy Tưởng, Thép Mới...

Sau khi Đảng ta tuyên bố tự giải tán (tháng 11-1945), thực chất là rút vào hoạt động bí mật, Báo Cờ Giải phóng cũng tự đình bản. Thôi Hữu chuyển sang công tác ở Báo Sự thật, cơ quan tuyên truyền của Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Thôi Hữu vào quân đội, tham gia phụ trách Báo Thủ đô của Liên khu I. Thôi Hữu lăn lộn bám sát các chiến trường, ông xông xáo và gắn bó với bộ đội. Các phóng sự như “Đi vào sau địch”, “Tù binh Đường số 4” của ông đã tái hiện khá sinh động hiện thực kháng chiến, ngợi ca khí phách anh hùng cũng như lòng nhân đạo cao cả của quân và dân ta.

Cùng với văn xuôi, những bài thơ của Thôi Hữu mang đậm phong cách nghệ sĩ-chiến sĩ như: “Đi tuần”, “Tam Đảo phá hoại”; hay một nét chấm phá: “Sau lũy tre xanh”, “Xe trâu”, “Lời cô lái đò”... phản ánh cuộc sống, chiến đấu đầy gian khổ của quân và dân ta lúc bấy giờ. Tuy nhiên, bạn đọc nhớ hơn cả vẫn là “Lên Cấm Sơn”. Có thể nói, đây là bài thơ thành công nhất của ông. Tác phẩm này có mặt trong nhiều tuyển tập, như: “Thơ Việt Nam 1945-1975”, “Thơ Việt Nam 1945-1985”, cùng các tập thơ kháng chiến. Lời thơ ngắn gọn, ngôn ngữ trau chuốt, cảm xúc chân thành và trong sáng. Dễ gì quên được những câu thơ như thế này: Có khi gạo hết tiền vơi/ Ổi xanh hái xuống đành xơi no lòng/ Có đêm gió bấc lạnh lùng/ Áo quần rách nát, lá dùng che thân... Hay là: Tiếng hát lừng vang trong gió núi/ Ngày vàng ngân giọng trẻ ê a/ Ở đây bản vắng rừng u tối/ Bộ đội mang gieo ánh chói lòa.

“Lên Cấm Sơn” thể hiện một cái nhìn đầy lạc quan trước vẻ đẹp cao cả của Bộ đội Cụ Hồ, những người lính sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh để bảo vệ nhân dân: Lòng tôi bừng thức tình trai mạnh/ Muốn viết bài thơ rộn tiếng cười/ Tặng những anh tôi trong lửa đạn/ Qua nghìn gian khổ vẫn vui tươi.

Tiếc thay, khi vừa bước sang tuổi 31, tài năng đương nở rộ, Thôi Hữu hy sinh trên chiến trường Việt Bắc, trong một vụ máy bay giặc Pháp ném bom (ngày 16-12-1950). Mãi hơn 30 năm sau ngày ông mất, cuốn “Thơ văn Thôi Hữu” mới được ra mắt bạn đọc. Ôn lại quãng thời gian hoạt động sôi nổi của nhà thơ-liệt sĩ Thôi Hữu, càng thêm tự hào về một thế hệ cầm bút luôn đồng hành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân.

Bài viết có tham khảo tư liệu trong cuốn “Trần Quốc Hương, nhân cách và kỳ tích” của Trần Giang, NXB Văn hóa - Thông tin, H.2012

Nhà văn NGUYỄN MINH NGỌC