Đó là một chiều đông, đi qua trung tâm người mù trên phố Nguyễn Thái Học, ông thấy một thương binh hỏng cả hai mắt lò dò chống gậy đi từng bước, thế mà vẫn bị ngã xây xát cả người. Từ đó, ông xác định: Mình phải đi học nghề y để chữa bệnh cho mọi người.

Từ sự lựa chọn duyên nợ ấy, ông đã kinh qua một cuộc đời đủ các cung bậc: Sau khi tốt nghiệp đại học, ông được cử đi B, là thương binh trong chiến tranh chống Mỹ. Tháng 6-1979, ông là cán bộ giảng dạy tại Trường Quân y Quân khu 1, phục vụ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới. Tháng 7-1983, ông được cử đi làm chuyên gia y tế ở Cộng hòa Dân chủ Congo. Tiếng là chuyên gia nhưng vẫn phải nấu ăn bằng bếp củi hoặc dầu, mổ cấp cứu bằng đèn măng sông hoặc đèn pin, và trong cái sự “đi làm chuyên gia” ấy có cả mục đích mưu sinh giữa thời bao cấp khó khăn.

leftcenterrightdel
 GS, TS Vương Tiến Hòa sau một ca mổ. Ảnh do nhân vật cung cấp

Năm 1990, ông trở lại Trường Đại học Y Hà Nội khi đã 45 tuổi, sự nghiệp khoa học và trồng người mới thực sự bắt đầu. Dù muộn vậy nhưng đến trước khi nghỉ hưu, ông đã có một lý lịch khoa học thật đáng nể phục. Cuối thập niên 1990, sức khỏe sinh sản (SKSS) đang là vấn đề nổi cộm trên thế giới, còn ở Việt Nam thì gần như chỉ mới có những khái niệm tiếp cận ban đầu. Ông chọn học chuyên ngành SKSS tại Đại học Mahidol (Thái Lan).

Tháng 4-1998, ông là một trong những người đầu tiên cùng với Ban biên tập kênh truyền hình VTV2 xây dựng Chương trình “Sức khỏe cho mọi người”. Từ đó, với ngoại hình trí thức lịch lãm, ông là gương mặt quen thuộc trong những chương trình nói về sức khỏe trên sóng truyền hình.

Ông được trường cử đi học về y học gia đình, dự Hội nghị y học gia đình vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, nhờ đó, góp phần giúp cho Trường Đại học Y Hà Nội thành lập Bộ môn Y học gia đình mà ông là một trong những giảng viên đầu tiên. Ông là chủ nhiệm 3 đề tài nhánh cấp Nhà nước do GS Tôn Thất Bách làm Chủ nhiệm về nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới của phụ nữ đã có chồng tại một số vùng nông thôn và khu công nghiệp. Cho đến cuối thế kỷ 20, chửa ngoài tử cung (CNTC) là một trong những nguy cơ hàng đầu gây tử vong cho các bà mẹ. Trăn trở nghiên cứu vấn đề này, năm 2002, ông đã bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ về CNTC và xuất bản hai cuốn sách về đề tài này. Từ những kinh nghiệm lâm sàng, ông đã đưa ra phác đồ chẩn đoán sớm CNTC từ tuyến cơ sở (tuyến huyện) đến tuyến Trung ương. Ông là chủ nhiệm nhiều đề tài cấp bộ, trong đó có hai cuốn chuyên khảo và đồng tác giả của 20 đầu sách khác, 80 báo cáo khoa học của ông hoặc cùng đồng nghiệp được đăng trên các tạp chí y học có uy tín.

Hơn 40 năm gắn bó với nghiệp nhà giáo, ông rất tự hào khi cùng cán bộ bộ môn đào tạo ra hàng nghìn sinh viên đa khoa chuyên ngành sản phụ và y tế công cộng, đào tạo cán bộ y tế sau đại học, nhất là đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp 2 và tiến sĩ. Không những thế, ông còn “cầm tay chỉ việc” cho đồng nghiệp ở nhiều bệnh viện tuyến dưới. Sau này, ông cũng đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu về SKSS và bộ môn Nam học. Cuốn “Bệnh học nam giới với sinh sản và tình dục” là cuốn sách hữu ích cho đồng nghiệp ngành y và cộng đồng.

Tôi hỏi ông: Cớ sao lại chọn khoa sản, cái nghề “bà mụ” để cống hiến cuộc đời mình? Ông kể: Hồi còn bé, khi xem bộ phim “Kiếm sống”, chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Macxim Gorki, có một tiểu đoạn: Gorki đang đi trên bờ cát của dòng sông Volga, chợt nghe tiếng kêu của một người phụ nữ từ một bụi cây, anh chạy lại. Dù rất đau đớn, người phụ nữ vẫn “xả” tới tấp vào mặt chàng trai: “Cút đi, đồ mặt dày, đàn ông đàn ang gì mà không biết xấu hổ à?”. Chàng trai không những không xấu hổ mà còn giúp người phụ nữ mẹ tròn con vuông, rồi chàng nâng em bé lên lội ra dòng Volga. Tiếng khóc của bé vang lên trong tiếng sóng. Gorki nói với em: “Hỡi bé em, hãy khóc đi, khóc thật to để át những nỗi khổ đau của cuộc đời, để ngợi ca ngày mai tươi sáng hơn”. Tiểu đoạn ấy ám ảnh ông suốt thời tuổi trẻ. Chính nó đã làm ông tìm thấy nét nhân văn, lãng mạn của cái nghề mà không ít bác sĩ nam e ngại khi nói ra.

leftcenterrightdel
 Bác sĩ Vương Tiến Hòa khi còn công tác trong quân đội.

Là một thầy thuốc, giữa lúc chiến tranh ác liệt, ông sẵn sàng dấn thân vào chốn hiểm nguy. Ông kể: Mùa hè năm 1972, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội, tôi được phân đi cùng một đoàn cán bộ miền Nam ra Bắc an dưỡng và học tập trở lại quê hương. Đến phà Long Đại, bến phà ác liệt mà thời ấy người ta mệnh danh là “phà Long Đầu” thì đoàn bị bom. Tôi không biết đội hình tan tác như thế nào, chỉ nhớ lưng tôi đau lắm. Buổi chiều hôm sau, đơn vị tổ chức truy điệu một liệt sĩ trong đoàn. Mọi người không cho tôi dự, nhưng tôi đòi ra cho bằng được để tiễn biệt đồng đội. Tiều tụy trong bộ bà ba màu cỏ úa sẫm, còn lấm láp đầy bụi vàng của đất cát, hai người trong đoàn xốc nách, dìu tôi ra triền đồi, cùng làm lễ truy điệu. Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến cảnh hy sinh mất mát nơi chiến trường. Giữa triền đồi hoang lúp xúp những bụi mua, bụi sim và cỏ dại, thi hài anh được quấn trong chiếc tăng bằng nilon rồi được đưa xuống mộ. Buổi lễ diễn ra chóng vánh. Điếu văn ngắn ngủi, chỉ hơn một phút, mọi người cúi đầu tưởng niệm người đã khuất với mấy phát súng tiễn biệt. Sau khi lành vết thương, tôi được chuyển về một đội điều trị mặt trận. Do được đào tạo cơ bản tại trường y nên tôi có vẻ “đáng giá” trong con mắt của đồng nghiệp, vì đội điều trị này phần lớn là y sĩ, chỉ có một vài bác sĩ nhưng là hàm thụ hoặc bổ túc trong quân đội. Giường bệnh là những sàn nứa giống như lán dân công, dưới chân là những dãy hào nông, đề phòng khi bị bom thì thương binh, bệnh binh lăn xuống nhằm hạn chế thương vong. Tôi nhớ ban đầu, những bữa cơm ở đội điều trị thường bị bao bọc bởi cái mùi khủng khiếp từ những vết thương bị hoại tử do không được chăm sóc hoặc chăm sóc không tốt. Chúng khăn khẳn, đôi khi phải bịt mũi và cố lắm để không nôn ọe trước mặt mọi người. Rồi thì cuộc sống trong chiến tranh làm tôi quen dần với cái mùi đó từ khi nào không biết, xơi ngon lành những bữa cơm đạm bạc và vội vã nơi chiến trường.

Cuối cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của đế quốc Mỹ, một lần đi công tác, khi B-52 càn qua, ông nhường hầm cho hai người phụ nữ nên bị thương rất nặng. Trong cái đêm trăng mờ 21-12-1972 ấy, giữa bãi bom B-52 mịt mù khói lửa, ông vừa lấy tay bịt vết thương của mình, vừa bò đến ôm một cháu bé 4-5 tuổi, rồi lấy thân mình che cho cháu khi đợt B-52 thứ hai ào đến. Tôi hỏi: “Lúc đó, ông nghĩ như thế nào mà mất máu nhiều vậy vẫn cố gắng đến cứu cháu bé?”. Ông cười: “Có nghĩ gì đâu, thấy thương quá và nguy hiểm cho cháu bé thì cứ bò đến mà ôm lấy cháu thôi”. Trong những ngày chiến đấu giữa cái sống và cái chết ở bệnh viện, ông cảm động vì một cô sinh viên y khoa với đôi mắt to trong, nhân hậu đã khóc vì mình. Cô gái ấy về sau đã trở thành bạn đời của ông, giờ họ lên chức ông bà và có 3 cậu cháu nội kháu khỉnh.

Sau khi nghỉ hưu, bên cạnh những hoạt động khoa học, ông bắt đầu tìm niềm vui trong viết lách. Một lần, ông đưa tôi xem bài tùy bút “Quảng Bình quê ta ơi” lấy cảm xúc từ bài hát cùng tên của nhạc sĩ Hoàng Vân. Bài tùy bút gần như là sự hồi tưởng về những năm tháng chiến tranh của ông. Đoạn kết để lại cho tôi ấn tượng thật sâu đậm: “Tôi cứ mãi nhìn ra ngã ba sông Son với dòng nước trong lành mát rượi, cảm thấy trong tiếng khua của mái chèo nhịp nhàng khoan thai văng vẳng bài hát đã nằm lòng bao người... Và tôi thầm nghĩ: Ơi những người được sống và làm nên sự nghiệp của cá nhân nhưng chưa từng được bưng một bát cơm trộn lẫn mùi khăn khẳn của vết thương da thịt thối rữa thì hãy nhớ rằng: “Quảng Bình quê ta ơi, giữ lấy đất trời của quê hương ta, giữ lấy những gì mà ta yêu quý”... Hãy giữ lấy “bốn mùa xanh tươi” cùng với “những gì mà ta yêu dấu” muôn đời, nhưng ngấm đầy đau thương, thấm đẫm nước mắt, máu xương của những người đã khuất”. Đọc những dòng tự sự ấy, tôi càng hiểu rõ: Ông là nhà khoa học nhưng luôn đau đáu nỗi niềm của trái tim người lính.

Thiếu tướng HỒ SỸ HẬU